Nhân học y tế – hướng tiếp cận nghiên cứu về chăm sóc sức khỏe cộng đồng ở vùng các tộc người thiểu số Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa

                                                                                                              ThS. Nguyễn Thị Thanh Vân*TÓM TẮTa2
Trong những năm qua, quá trình tăng trưởng kinh tế – xã hội ở nước ta nói chung, một số chính sách của các tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước nói riêng đã tác động đến lĩnh vực chăm sóc sức khỏe cộng đồng ở vùng các tộc người thiểu số Việt Nam. Theo đó, có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề chăm sóc sức khỏe cộng đồng của các tộc người thiểu số miền núi ở nhiều góc độ khác nhau, trong đó có ngành Nhân học Y tế. Bài viết này sẽ tổng luận và làm rõ vai trò của nhân học y tế qua một số công trình nghiên cứu liên quan đến thực trạng chăm sóc sức khỏe cộng đồng của các tộc người thiểu số ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.

  • 1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Sức khỏe là một trong những yếu tố ảnh hưởng quan trọng đến quá trình phát triển của một cộng đồng tộc người, đặc biệt đối với các dân tộc thiểu số (DTTS). Cùng với sự phát triển tăng trưởng của kinh tế – xã hội, đời sống vật chất của người dân được nâng cao, vấn đề chăm sóc sức khỏe (CSSK), đặc biệt vấn đề CSSK các tộc người thiểu số trở thành vấn đề hàng đầu trong chiến lược về chương trình y tế quốc gia ở Việt Nam. Ngày 19/3/2001, Chính phủ đã ký Quyết định số 35/2001/QĐ-TTg phê duyệt “Chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân giai đoạn 2001-2010”, ưu tiên đầu tư cho vùng nghèo, vùng núi, vùng sâu, vùng xa về các hoạt động y tế dự phòng, y học cổ truyền, các hoạt động CSSK ban đầu tại y tế cơ sở,…. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố tác động đến hành vi lựa chọn và mức độ sử dụng các dịch vụ y tế của người nghèo, các tộc người thiểu số, nên thực trạng chất lượng khám chữa bệnh của vùng tộc người thiểu số vẫn đang đặt ra nhiều vấn đề. Và sức khỏe của con người không còn là vấn đề riêng của ngành y tế mà đã trở thành vấn đề quan trọng và là đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực, trong đó có nhân học. Trước những vấn đề trên, nhân học y tế sẽ tìm hiểu các cảm nhận của đối tượng nghiên cứu về thân thể, sức khoẻ và bệnh tật của họ cũng như các hành động của họ liên quan đến các vấn đề này. Không như các y, bác sĩ, các nhà nhân học y tế không nhất thiết phải hiểu biết chuyên ngành y, mà được đào tạo để biết cách áp dụng khoa học xã hội vào việc giúp hiểu rõ hơn về các vấn đề sức khoẻ của mọi người cũng như về cách thức mọi người tiếp nhận và xử trí các vấn đề sức khoẻ của họ.

  • II. KHÁI NIỆM VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VỀ NHÂN HỌC Y TẾ

Nhân học y tế là (Medical Anthropology) một lĩnh vực nghiên cứu được quan tâm từ lâu trên thế giới, tại Việt Nam, trong những năm gần đây thuật ngữ này xuất hiện ở một số nghiên cứu liên quan đến vấn đề CSSK của các cộng đồng tộc người thiểu số nói riêng.
Tại các trường Đại học của một số nước trên thế giới, nhân học y tế được đưa vào giảng dạy cho sinh viên ngành nhân học. Trong cuốn Nhân học – một quan điểm về tình trạng nhân sinh của Amily A. và Robert H. đã xếp nhân học y tế là một vấn đề nghiên cứu trong nhân học ứng dụng. Cần kể đến cuốn Văn hóa, sức khỏe và bệnh tật (Culture, health and Illness) của Cecil G.Helman được xem như một giáo trình cơ bản về nhân học y tế và được giảng dạy trong ngành nhân học ở Anh và Thụy Điển. Có thể đây là giáo trình đưa ra các vấn đề lý thuyết trong nghiên cứu nhân học y tế liên quan đến các khái niệm về bệnh tật, sức khỏe, phạm vi nghiên cứu, mối quan hệ giữa văn hóa va CSSK, giữa các liên ngành khác…. Theo các nhà nhân học Âu – Mỹ, nhân học y tế là một chuyên ngành ứng dụng của nhân học văn hóa và xã hội. Nhân học y tế hướng sự quan tâm của mình đến lĩnh vực tương đối rộng của các hiện tượng sinh học, nhất là trong mối quan hệ với sức khỏe và bệnh tật. Do đó, các chủ đề nghiên cứu của ngành này có sự chồng lên nhau giữa khoa học xã hội và khoa học tự nhiên. Theo định nghĩa của Foster và Anderson (Medical anthropology – Newyork, Wiley, 1978): “Nhân học y tế là một chuyên ngành văn hóa sinh học nghiên cứu đến cả hai khía cạnh sinh học và văn hóa xã hội của hành vi loài người, đặc biệt nghiên cứu những cách thức mà hai khía cạnh này tương tác với nhau trong suốt lịch sử của nhân loại để ảnh hưởng lên sức khỏe và bệnh tật”.
Những nội dung nghiên cứu chính của nhân học y tế:

  • 1. Tìm hiểu sự liên quan giữa những yếu tố môi trường và sinh thái với sức khỏe và bệnh tật: Ở cấp vi mô, nhân học y tế xem xét các tín ngưỡng và tập quán văn hóa có vai trò chi phối những cách ứng xử của con người với bệnh tật. Ở cấp vĩ mô, nhân học y tế xem xét những mối quan hệ tương tác giữa các nhóm người trong lịch sử, nguồn gốc của các rủi ro (bao gồm tai nạn, xung đột cá nhân, thiên tai, mất mùa, mất tài sản…), trong đó bệnh tật cũng là trong các dạng rủi ro đó, ảnh hưởng của các xung đột chính trị, di dân và mất cân đối về nguồn tài nguyên mang tính toàn cầu đến bệnh tật…;
  • 2. Niềm tin và sự hiểu biết của người dân đối với bệnh tật trên nền tảng văn hóa của họ: các giá trị của những quan niệm, kiêng kỵ và thói quen liên quan đến sức khỏe là một phần của văn hóa, qua đó nhân học y tế nghiên cứu những mối liên hệ giữa các loại ốm đau, niềm tin, hành vi sức khỏe;
  • 3. Phản ứng của các nhóm cư dân trong xã hội đối với CSSK: với những nền văn hóa khác nhau, con người sẽ đối phó với bệnh tật, sự chết và các rủi ro khác nhau. Do đó, phản ứng đối với việc CSSK phụ thuộc vào niềm tin, kiến thức của con người đối với bệnh tật. Ngoài ra, còn có các yếu tố khác như điều kiện kinh tế, giới tính, trình độ văn hóa, tôn giáo, dân tộc… có ảnh hưởng khác nhau đến sự phản ứng và sự lựa chọn trong CSSK. Ngoài ra, nhân học y tế còn đề cấp đến những vấn đề khác như: sự phát triển của những hệ thống tri thức y học và CSSK (tri thức địa phương, tri thức bản địa…); mối liên hệ giữa thầy thuốc và bệnh nhân; sự lồng ghép những hệ thống y tế trong môi trường văn hóa đa dạng[1].
  1. 3. HỆ THỐNG CSSK TỪ GÓC ĐỘ TIẾP CẬN CỦA NHÂN HỌC

Giống như những thứ khác, hệ thống y tế cũng bị qui định bởi xã hội. Do vậy, trên thế giới có rất nhiều hệ thống y tế khác nhau. Ở nhiều khu vực trên thế giới, người ta có xu hướng nghĩ rằng y học chỉ bao gồm nền y học “Phương Tây”. Tuy nhiên ở Việt Nam việc tồn tại song song nhiều nền y học khác nhau đã có một lịch sử lâu đời. Các nghiên cứu nhân học quan tâm đến tất cả các loại dịch vụ CSSK sẵn có cho con người. Thuật ngữ trong nhân học y học được dùng để chỉ việc cùng tồn tại song song nhiều nền y học là đa nguyên y học (medical pluralism) (Foster 1976). Đa nguyên y học thể hiện việc có nhiều lựa chọn về CSSK khác nhau sẵn có cho mọi người. Mặt khác, đa nguyên y học cũng có nghĩa là các vấn đề sức khoẻ có thể được hiểu và điều trị theo nhiều cách khác nhau.
 
Nhà nhân học Arthur Kleinman (1980) đã giới thiệu mô hình khu vực (sector model) như là một công cụ để tìm hiểu về các hoạt động của hệ thống y tế. Ông gợi ý việc nghiên cứu hệ thống y tế phải xem xét 3 khu vực khác nhau: khu vực chuyên môn (professional sector), khu vực truyền thống dân gian (folk sector) và khu vực phổ thông đại chúng (popular sector). Mỗi khu vực này sẽ có cách giải thích và điều trị các vấn đề sức khoẻ theo cách khác nhau. Khu vực chuyên môn bao gồm các chuyên gia y học. Khu vực này được tổ chức một cách chính thống và được công nhận về pháp luật. Ở Việt Nam, khu vực chuyên môn bao gồm cả những người hành nghề Tây y và Đông y, hai nhóm này đều được chuyên nghiệp hoá, chỉ những người được đào tạo đầy đủ theo yêu cầu và trực thuộc một tổ chức nào đó mới được phép hành nghề. Khu vực dân gian bao gồm các thầy lang, thầy cúng, pháp sư và các bà mụ vườn. Những thầy lang này không thuộc hệ thống y tế chính thống. Các cách chữa bệnh của họ có thể là mang tính chất thần bí hoặc dân dã hoặc là phối hợp cả hai cách này. Ở Việt Nam, những người hành nghề trong khu vực truyền thống dân gian bao gồm thầy cúng, thầy bói, thầy lang và bà đỡ. Cuối cùng, khu vực phổ thông đại chúng là khu vực của người dân, những người không có chuyên môn. Khu vực này chiếm phần lớn nhất trong bất kì hệ thống CSSK nào, đây chính là khu vực diễn ra hầu hết các hoạt động CSSK. Người ốm thường được phát hiện và nhận được các chăm sóc đầu tiên cũng thường là tại khu vực này. Khu vực phổ thông cũng bao gồm cả hoạt động tự CSSK thông qua những tri thức được đút kết kinh nghiệm qua nhiều thế hệ (tri thức bản địa, tri thức địa phương). Tuy nhiên, hiện nay các khu vực khác nhau trong hệ thống CSSK cũng có phần đan xen, chồng chéo nhau.Đôi khi khó mà xác định được một hành vi chăm sóc y tế là thuộc khu vực y học nào. Đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, trong tất cả các xã hội, bao giờ một số nền y học cũng có quyền lực và uy tín hơn các nền y học khác. Thông thường, nền y học hiện đại là hệ thống chiếm ưu thế còn các loại hình chăm sóc y tế khác ít được thừa nhận một cách chính thức. Ở Việt Nam, khu vực chuyên môn là khu vực được coi trọng cao nhất cả về mặt xã hội và chính trị. Khu vực chuyên môn được thừa nhận là “khoa học” và được coi là đại diện cho hệ thống CSSK thống nhất của quốc gia. Do vậy, khu vực này cũng là khu vực mà chúng ta có nhiều kiến thức dựa trên nghiên cứu nhất. Ngược lại, các thực hành chăm sóc thuộc khu vực dân gian thường bị xem thường và đơn giản bị coi là “mê tín”. Đối với nhà nhân học, nội dung của từng khu vực không phải là cái cần quan tâm mà chính là việc người dân sử dụng và chuyển dịch giữa các khu vực này như thế nào. Các nhà nhân học cũng cần phải tìm hiểu mối quan hệ tương tác giữa nhân viên y tế và bệnh nhân cũng như các hành vi chăm sóc sức khoẻ (Janzen 1978). Do vậy, các thực hành CSSK hay các hành vi chăm sóc sức khoẻ (health seeking practices) là một trong các chủ đề được nghiên cứu nhiều nhất trong nhân học y tế. Vì nghiên cứu những nét đặc trưng về văn hóa của những thực hành trong CSSK, đó chính là sự nối kết giữa niềm tin của con người với những điều rủi ro xảy ra trong cuộc sống liên quan đến sức khỏe con người. Vai trò của lực lượng siêu nhiên, sự trừng phạt của thần thánh hay sự ác tâm của phù thủy dẫn đến ốm đau, bệnh tật, v.v…. Từ đó, con người lựa chọn các liệu pháp điều trị rất đa dạng và sẵn có, những người có nhu cầu có thể tìm kiếm và chọn lựa các dịch vụ CSSK theo nhiều cách khác nhau. Trong nghiên cứu về các hành vi chăm sóc sức khoẻ, nhà nhân học dựa trên những đặc tính của nhóm xã hội như sự lựa chọn, sự dạy dỗ, quan niệm, những giá trị, biểu tượng, nghi lễ….chú ý tìm các yếu tố văn hóa làm ảnh hưởng tới niềm tin và sự quyết định của người bệnh khi lựa chọn một loại hình dịch vụ cụ thể. Như vậy, trong quá trình nghiên cứu các nhà nhân học tập trung mô tả và phân tích hệ thống y tế dân gian (tri thức bản địa).

  1. 4. MỘT SỐ NGHIÊN CỨU NHÂN HỌC Y TẾ VÙNG CÁC TỘC NGƯỜI THIỂU SỐ MIỀN NÚI VIÊT NAM

Đối với các tộc người vùng DTTS tại Việt Nam, vấn đề sức khỏe được đặt ra không chỉ là sự đầu tư về trang thiết bị, cơ sở vật chất, đội ngũ bác sĩ… mà những hoạt động CSSK có hiệu quả thì cần phải nghiên cứu, tìm hiểu, lưu ý đến những yếu tố tâm lý, văn hóa của từng tộc người, từng vùng miền cụ thể. Chỉ trong những năm gần đây, nhiều nhà nghiên cứu tiếp cận ở góc độ văn hóa – xã hội để nghiên cứu vấn đề CSSK cộng đồng các tộc người thiểu số, nghiên cứu trên nhiều góc độ về tri thức địa phương hay tri thức bản địa, luật tục, tập quán, kiêng kỵ, quan niệm,… hay ở nhiều khía cạnh khác nhau của văn hóa tộc người, các yếu tố xã hội của cộng đồng tộc người, v.v…. Vì ở góc độ này, nhân học tế đã chỉ ra rằng trong tất cả xã hội loài người, niềm tin và sự thực hành liên quan đến sức khỏe bệnh tật là một đặc trưng trung tâm của văn hóa. Do đó, qua nhiều nền văn hóa khác nhau thì những quan niệm, ứng xử, sự lựa chọn và hành vi CSSK của từng nền văn hóa cũng khác nhau. Điều này có ý nghĩa quan trọng và giúp cho nhà nước, các tổ chức khi ban hành và thực thi những chính sách, thực hiện những dự án phát triển trong CSSK vùng DTTS hiệu quả hơn.
 
Theo nguồn báo cáo số liệu tổng điều tra dân số ngày 1/4/2009, dân số của Việt Nam là 85.789.573 người, trong đó dân tộc đông nhất là người Kinh chiếm 86,2% dân số, các tộc người thiểu số còn lại chiếm 13,8%. Các tộc người thiểu số chủ yếu cư trú trên vùng cao, vùng núi (chiếm ¾ diện tích lãnh thổ cả nước). Các tộc người thiểu số thường nghèo nhất trong nhóm nghèo, điều kiện cuộc sống khó khăn, thu nhập thấp, nghèo đói, do đó tiếp cận và hưởng lợi các dịch vụ y tế và giáo dục cơ bản còn nhiều hạn chế.
Thời gian gần đây, không ít công trình nghiên cứu, bài viết liên quan đến CSSK vùng DTTS dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau. Trong đó nhiều nhà nghiên cứu thường sử dụng những thuật ngữ như nhân học y tế, xã hội học y tế, tri thức bản địa trong CSSK, hành vi tìm kiếm sức khỏe,…ví dụ như: Đào Huy Khuê, Chăm sóc sức khỏe cho trẻ em và sản phụ ở một số tộc người Tây Bắc, Tạp chí DTH, số 4, 1998; Bế Văn Hậu,Những yếu tố kinh tế – xã hội ảnh hưởng tới thực trạng chăm sóc sức khỏe cộng đồng ở miền núi hiện nay(Quan nghiên cứu so sánh trường hợp hai xã Hiền Lương, Hòa Bình và Chiềng Ngàm, Sơn La), Tạp chí DTH, số 1, 2001; Trần Hồng Hạnh, Tri thức địa phương trong sử dụng thuốc Nam của người Dao Đỏ (Nghiên cứu ở xã Tả Phìn, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai), tạp chí Dân tộc học, số 5, 2002; Đặng Thị Hoa, Nghiên cứu nhân học y tế ở vùng dân tộc thiểu số nước ta, Kỷ Yếu Hội nghị thông báo dân tộc học, năm 2004; Nguyễn Bảo Đồng với hai bài viết: Y học cổ truyền trong chăm sóc sức khỏe người Dao ở xã Ba Vì, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây, trong kỷ yếu Thông báo Dân tộc học Việt Nam, NXB. Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 2005 và Tri thức về y học dân tộc và những giá trị văn hóa, Tạp chí Dân tộc và Thời đại số 135-136, năm 2010; Đoàn Kim Thắng, Sức khỏe và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản của các dân tộc thiểu số Việt Nam, tạp chí DTH số 4/2007; Hoàng Thị Lê Thảo, Quan niệm truyền thống của người Nùng trong chăm sóc sức khỏe, Tạp chí DTH, số 5, 2008; Đào Quang Vinh, Chăm sóc sức khỏe và an ninh lương thực, TC. DTH, số 1 và 2/ 2009; Nguyễn Thị Minh Nguyệt, Tập quán trong sinh đẻ của người Chăm (Qua nghiên cứu ở tỉnh Tây Ninh), Tạp chí Khoa học xã hội, số 11, 2011; v.v….
Qua những bài viết trên, cho thấy sự phong phú, đa dạng về tri thức bản địa trong CSSK của các tộc người thiểu số ở nước ta và đặc biệt hiện nay họ vẫn còn sử dụng những tri thức đó trong CSSK. Trong đó, do môi trường sống gần rừng nên phần lớn các tộc người thiểu số sử dụng cây thuốc từ các loài động thực vật để CSSK và chữa bệnh, theo Trần Văn Ơn, hầu hết các hộ gia đình miền núi có thể sử dụng từ vài chục đến vài trăm loài cây thuốc sẵn có trong vườn nhà, nương rẫy… để chữa những bệnh thông thường, riêng các thầy lang người H’mông (Mai Châu, Hòa Bình) có thể sử dụng từ 50 -120 loài cây thuốc quý hiếm để chữa bệnh. Trong quá trình chữa bệnh, mỗi tộc người có những nghi lễ, kiêng kỵ, quan niệm riêng không chỉ trong lúc điều trị mà cả trong cuộc sống hàng đều nhằm mục đích bảo vệ sức khỏe cho mình, gia đình mình, cộng đồng mình. Do đó, một số tộc người lựa chọn hình thức cúng chữa bệnh, nhiều tộc người như H’mông, Thái, Mường… vẫn có tín ngưỡng thờ ma thuốc. Với các hình thức khác nhau trong CSSK của các tộc người thiểu số qua các đánh giá nhận định của các tác giả cũng có nhiều chiều hướng trái ngược nhau dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau.
Mặc dù vậy, qua các bài viết trên, vấn đề sức khỏe và tình hình sử dụng dịch vụ CSSK của các tộc người thiểu số hiện nay so với tộc người đa số vẫn chịu nhiều thiệt thòi. Nhóm dân tộc thiểu số (DTTS) là một trong những nhóm nằm trong nhóm bất bình đẳng của phân tầng xã hội, từ đó bất bình đẳng về sức khỏe và CSSK. Một vài con số liên quan đến thực trạng CSSK vùng DTTS như: khoảng 23% trẻ em DTTS ở Việt Nam bị thiếu cân so với tuổi, các tộc người Tày, Thái, Mường có một số tập quán và điều kiện sống ô nhiễm, nên dễ bị dịch bệnh lây lan trên diện rộng. Đặc biệt, trong CSSK sinh sản, 65% phụ nữ vùng Tây Bắc và 40% phụ nữ Tây Nguyên sinh đẻ tại nhà một mình, không có sự trợ giúp của đội ngũ chuyên môn. Nhiều công trình nghiên cứu đã cung cấp thông tin về vấn đề đẻ tại nhà của nhóm phụ nữ DTTS là rất phổ biến, là một phong tục, một thói quen và là một nét văn hóa của cộng đồng. Một số tác giả cho rằng, nguyên nhân phần lớn phụ nữ DTTS không muốn đến trạm y tế, bệnh viện sinh đẻ vì những quan niệm, những kiêng kỵ, những thói quen và tính cách văn hóa của cộng đồng chi phối, tác động đến hành vi lựa chọn, sử dụng các hệ thống dịch vụ y tế trong CSSK sinh sản nói riêng, CSSK nói chung của cộng đồng các DTTS. Qua các cuộc phỏng vấn cho thấy “phụ nữ H’mông thường sinh con ở nhà do chồng đỡ đẻ, người chồng cho vợ uống một loại lá cây để giúp co hồi tử cung và tránh chảy máu nhiều, bên cạnh đó người chồng xoa bóp bụng vợ để giúp sổ nhau thai ra. Trong 3 ngày liền phụ nữ nằm bên cạnh bếp lửa để giữ ấm”[2]; Trong kỳ mang thai, người phụ nữ M’nông kiêng không đến đám ma, sợ hồn người chết sẽ làm đứa trẻ khi sinh ra sẽ giật mình, khóc đêm. Kiêng không mang nặng vì sợ sẩy thai; kiêng không đi qua dây vì sợ sinh khó. Trong suốt quá trình mang thai, sản phụ không được ăn thịt một số thịt con vật như: con khỉ, vượn, vì theo quan niệm của họ, vượn, khỉ là những con vật hay nghịch ngợm, phá phách. Nếu ăn thịt chúng thì khi đẻ con, con mình cũng nghịch ngợm, phá phách như khỉ, vượn; kiêng ăn thịt rùa vì sợ khi đẻ con ra chậm chạp như rùa. Ngoài ra, phụ nữ mang thai không được ăn cơm trực tiếp trên đũa, không ăn thịt nướng qua que xiêng, không ngồi một chỗ, v.v… sẽ gây khó đẻ. Trong suốt thời gian mang thai, hai vợ chồng phải luôn cười nói vui vẻ, niềm nở, thoải mái với mọi người xung quanh, điều này sẽ giúp người vợ dễ sinh “…chẳng hạn khi có khách vào nhà mình thì phải chào hỏi trước niềm nở, phải mời nước, mời thuốc họ hoặc tặng cho họ một vật nhỏ gì đó, không ăn tham” (Bà T.N)[3]. Đến khi sắp sinh phải kiêng không được ăn các loại cây có dạng dây quấn vào nhau, sợ đẻ khó, v.v….
5. KẾT LUẬN
Như vậy, kết quả của các công trình, bài viết trên, các tác giả nghiên cứu đến các vấn đề trong CSSK chủ yếu dưới góc độ mô tả các tri thức bản địa trong CSSK thông qua các quan niệm, kiêng kỵ, phong tục, những loại thuốc, phương thuốc và cách thức chữa bệnh truyền thống của các tộc người thiểu số. Vẫn còn hiếm hoi các công trình nghiên cứu nhân học y tế một cách chuyên sâu, liên ngành giữa các nhà nghiên cứu văn hóa, xã hội, ngành y tế và các nhà quản lý của tộc người cụ thể, địa bàn cụ thể. Bởi lẽ, vấn đề CSSK đối với vùng đồng bào DTTS đang đặt ra trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế không chỉ đơn thuần về việc khám, chữa bệnh như thế nào mà cần đặt vấn đề CSSK của các tộc người đó trong một bối cảnh xã hội đang bị tác động của nhiều yếu tố như: giao lưu, tiếp xúc văn hóa giữa các tộc người, sự thay đổi môi trường tự nhiên, tác động của sự phát triển khoa học, công nghệ, của các chương trình, dự án, chính sách phát triển kinh tế- xã hội…. Nói cách khác, trong bối cảnh toàn cầu hóa, vùng DTTS cũng đứng trước những khó khăn và thách thức không nhỏ, đó chính là khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng DTTS với các vùng đồng bằng, đô thị ngày càng giãn rộng, thách thức về nguồn nhân lực, về cạnh tranh kinh tế thị trường, năng lực sản xuất, tiêu thụ sản phẩm…. Riêng về văn hóa truyền thống thì đang đứng trước nguy cơ mai một, biến dạng các giá trị văn hóa truyền thống, mất bản sắc văn hóa dân tộc…. Vì vậy, cần phải sàng lọc, loại bỏ những yếu tố không còn phù hợp trong xu thế phát triển của thời đại, kế thừa, đổi mới và phát huy những yếu tố phù hợp trong mọi lĩnh vực nói chung, trong vấn đề CSSK của các DTTS nước ta nói riêng. Bởi lẽ, để CSSK tốt cho cộng đồng các tộc người thiểu số không chỉ chú trọng trong việc đầu tư về các phương thức khám chữa bệnh của y học hiện đại mà cần phải lưu ý tới những vấn đề văn hóa, quan niệm, ứng xử cũng như kho tàng tri thức bản địa vô cùng phong phú trong CSSK của chính họ.
Dưới góc độ nghiên cứu của các nhà dân tộc học/nhân học, nghiên cứu nhân học y tế hiện nay vẫn còn là một lĩnh vực nghiên cứu khá mới mẻ. Trong khi đối tượng nghiên cứu của nhân học y tế mở rộng cả về tri thức CSSK của tộc người, mối quan hệ giữa văn hóa trong CSSK, cộng với nhiều phương pháp liên ngành không chỉ trong lĩnh vực khoa học xã hội mà còn trên cả lĩnh vực khoa học tự nhiên (sinh học, dược học, dịch tễ học,…). Do đó, nhân học y tế là một lĩnh vực nghiên cứu đang đứng trước những khó khăn vì hiện nước ta vẫn thiếu nhiều các chuyên gia nghiên cứu nhân học y tế hội đủ tất cả những lĩnh vực chuyên môn trên.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trần Hồng Hạnh (2005), Tri thức địa phương – sự tiếp cận lý thuyết, Tạp chí Dân tộc học, số 1, trang 22-23.
2. Đoàn Kim Thắng, (2007), Sức khỏe và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản của các dân tộc thiểu số Việt Nam, Tạp chí Dân tộc học số 4/2007, trang 21-28.
3. Tư liệu điền dã trong đợt thực tập của tập thể giảng viên và sinh viên khoa Nhân học, thuộc đề tài Tri thức bản địa của GS.TS. Ngô Văn Lệ, tháng 5/2012.
4. Đoàn Kim Thắng, (2007), Sức khỏe và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản của các dân tộc thiểu số Việt Nam, Tạp chí Dân tộc học số 4/2007, trang 21-28.
5. Đặng Thị Hoa, Nghiên cứu nhân học y tế ở vùng Dân tộc thiểu số nước ta, trong Thông báo dân tộc học năm 2004, NXB. KHXH, HN, 2006.
6. Quỹ dân số Liên hiệp quốc tại Việt Nam (UNFPA), Kiến thức và hành vi của cộng đồng dân tộc thiểu số về sức khỏe sinh sản, 2007.
7. Hoàng Bá Thịnh, Xã hội học sức khỏe, NXB. ĐHQG, HN, 2010.
8. Phạm Văn Lình, Võ Văn Thắng, Nhân học y tế, NXB. ĐH Huế, 2008.
9. Bế Văn Hậu, Những yếu tố kinh tế- xã hội ảnh hưởng tới thực trạng chăm sóc sức khỏe cộng đồng ở miền núi hiện nay, TC. Dân tộc học, số 1, 2001.
10. Phạm Gia Trân, Nhân học y tế: một cách tiếp cận trong nghiên cứu sức khỏe và bệnh tật, Khoa Địa lý, Trường ĐHKHXH&NV, Tp. HCM.
11. Hanne O. Mogensen, Tine Gammeltoft và cộng sự, Nhập đề về nhân học xã hội trong bối cảnh Việt Nam: Nghiên cứu về giới và sức khoẻ sinh sản ở khu vực ven biển miền Bắc trung bộ, NXB. Thống kê, 2005.




* Khoa Nhân học, Đại học KHXH&NV Tp Hồ Chí Minh. Bài viết này đã được in trong Kỷ yếu Tọa đàm khoa học “Nhân học trong bối cảnh toàn cầu hóa” được tổ chức ngày 26 tháng 4 năm 2013 tại Trường ĐHKHXH&NV-TPHCM.
[1] Xem thêm Phạm Văn Lình, Võ Văn Thắng, Nhân học y tế, NXB. ĐH Huế, 2008.
[2] Quỹ dân số Liên hiệp quốc tại Việt Nam (UNFPA), Kiến thức và hành vi của cộng đồng dân tộc thiểu số về sức khỏe sinh sản, 2007, trang 17.
[3] Trích tư liệu điền dã tại tỉnh Bình Phước của tác giả và nhóm SV khoa Nhân học trong đề tài Tri thức bản địa của GS.TS. Ngô Văn Lệ, tháng 5/2012.