Một số hướng tiếp cận nghiên cứu về mối quan hệ giữa biến đổi khí hậu và cộng đồng dân cư

Hồ Ngọc Trí

cabao

TÓM TẮT:
Bài viết trình bày một số hướng tiếp cận về biến đổi khí hậu và cộng đồng cư dân dưới góc độ nhân học và xã hội học. Đồng thời, bài viết tổng quan các nghiên cứu nhân học và xã hội học về biến đổi khí hậu tại Việt Nam từ năm 2007 đến nay (2012). Trên cơ sở đó, người viết đề xuất một số hướng cần tập trung nghiên cứu về biến đổi khí hậu và cộng đồng cư dân tại Việt Nam trong thời gian tới. Tư liệu của bài này chủ yếu từ các bài viết có liên quan đến chủ đề biến đổi khí hậu được đăng trên các tạp chí: Khoa học Xã hội, Nghiên cứu con người, Dân tộc học, Xã hội học, và một số tư liệu từ Tạp chí Tài nguyên và Môi trường, Tạp chí Nghiên cứu phát triển bền vững, Tạp chí Phát triển khoa học và công nghệ từ năm 2007 đến nay.
 
1. GIỚI THIỆU
“Biến đổi khí hậu là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra các ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và tác động đến hoạt động của các hệ thống kinh tế-xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người” (Theo Điều 1, Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu, 1992).
Biến đổi khí hậu là thách thức nghiêm trọng đối với Việt Nam. Đồng bằng sông Cửu Long và Đồng bằng sông Hồng là những vùng trũng nên bị ảnh hưởng nhiều nhất khi xảy ra ngập lụt, xâm nhập mặn và các hiện tượng thời tiết xấu. Nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức tài nguyên rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác (Viện Khí tượng thủy văn và môi trường, 2011).
Biến đổi khí hậu sẽ làm giảm nguồn sinh kế như khả năng tiếp cận tới nguồn nước, nhà cửa, và cơ sở hạ tầng, thay đổi tình hình an ninh lương thực của khu vực. Những thay đổi về lượng mưa và các sự kiện thời tiết khắc nghiệt sẽ làm giảm sản lượng cây trồng ở nhiều vùng khác nhau. Nước biển dâng cao dẫn đến mất đi những vùng đất ven biển và nạn xâm thực của nước mặn, có thể làm giảm năng suất sản xuất nông nghiệp (Pisupati, B. và E.Warner, 2003).
Các lĩnh vực như an ninh lương thực, lâm nghiệp, môi trường/tài nguyên nước/đa dạng sinh học, y tế, sức khỏe cộng đồng, các vấn đề xã hội khác thuộc vùng núi và trung du Việt Nam có nguy cơ chịu tác động đáng kể của biến đổi khí hậu. Đối tượng dễ bị tổn thương nhất là nông dân, ngư dân; người già, trẻ em và phụ nữ; các dân tộc thiểu số ở miền núi (Bộ Tài nguyên và môi trường, 2008:10; Trịnh Thị Kim Ngọc, 2009; Cao Đức Thái, Trần Thị Hồng Hạnh, 2009).
Ở Việt Nam, biến đổi khí hậu đã trở thành mối quan tâm của nhiều ngành khoa học như sinh thái môi trường, lâm nghiệp, khí tượng thủy văn, y tế công cộng (Trần Đắc Phu, 2009; Trần Thục, Lê Nguyên Tường, 2010; Nguyễn Thị Hòa, 2010; Nguyễn Văn Thắng và cộng sự, 2010; Nguyễn Lân Dũng, 2010, v.v.). Riêng lĩnh vực khoa học xã hội, những năm gần đây, thống kê các bài viết trong các tạp chí trên, chúng ta thấy rằng số lượng các công trình nghiên cứu liên quan đến biến đổi khí hậu có chiều hướng tăng lên theo thời gian.
Các bài viết về biến đổi khí hậu tại Nam Bộ dưới góc nhìn của xã hội học và môi trường chủ yếu trên Tạp chí Khoa học Xã hội, Tạp chí Nghiên cứu phát triển bền vững (Lê Thanh Sang, 2009, 2010; Bùi Đức Kính, 2009, 2010; Nguyễn Tấn Dân, 2009; Nguyễn Xuân Mai, 2007, v.v.). Các bài viết có liên quan tới thích ứng biến đổi khí hậu dưới góc nhìn nhân học chủ yếu thuộc Tạp chí Dân tộc học, Tạp chí Nghiên cứu con người, v.v. đề cập về tri thức bản địa, chính sách nhà nước như quản lý, sử dụng tài nguyên rừng và nguồn nước, canh tác nông nghiệp, định canh định cư, an ninh lương thực, sức khỏe cộng đồng, v.v. tại các tỉnh miền Bắc (Vương Xuân Tình, Trần Hồng Hạnh, 2009; Nguyễn Công Thảo, 2009; Nguyễn Văn Toàn, 2011; Cao Đức Thái, Trần Thị Hồng Hạnh, 2009; Trần Thị Kim Ngọc, 2009; Phạm Quang Hoan, 2009; Trần Hữu Sơn, Bàn Khánh Thanh, 2011; Nguyễn Quang Tân, 2009; Trần Danh Thìn, 2009; Đào Thị Minh Hương, 2008; Lâm Minh Châu, 2007, Mai Văn Tùng, 2010, v.v.). Những bài viết trên gợi mở một số hướng nghiên cứu về biến đổi khí hậu tại Nam Bộ và Tây Nguyên.
Ở Việt Nam, trong lĩnh vực khoa học xã hội, vấn đề biến đổi khí hậu và môi trường được tiếp cận dưới góc độ của xã hội học môi trường (environmental sociology), nhân học sinh thái (ecological anthropology), nhân học y tế (medical anthropology), lịch sử môi trường (environmental history), địa lý học kinh tế (economic geography), v.v. Những ngành này đã và đang đóng góp không chỉ các cơ sở lí luận khoa học mà còn đưa ra các giải pháp áp dụng trong thực tiễn ứng phó biến đổi khí hậu tại Việt Nam hiện nay. Bài viết này chỉ trình bày hướng tiếp cận của xã hội học môi trường, nhân học sinh thái, nhân học y tế.
2. MỘT SỐ HƯỚNG TIẾP CẬN CỦA XÃ HỘI HỌC VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Biến đổi khí hậu là một trong những mối quan tâm của xã hội học nói chung và xã hội học môi trường nói riêng. Các nghiên cứu xã hội học trên thế giới đã quan tâm đến ba hướng nghiên cứu, bao gồm: những nguyên nhân xã hội dẫn đến biến đổi khí hậu, hệ quả kinh tế xã hội của biến đổi khí hậu cũng như giảm thiểu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu (Adger và cộng sự, 2009; Beck, 2010; Lever-Tracy, 2008; Molnar, 2010; Negal và cộng sự, 2009; Sekine và cộng sự, 2009; Smit và Wandel, 2006). Hiện nay, nghiên cứu xã hội học chủ yếu là hướng vào thái độ môi trường (environmental attitudes) từ việc tìm hiểu thái độ của cộng đồng đối với các vấn đề môi trường có chú trọng các nhân tố độ tuổi, học vấn, tư tưởng chính trị (Dunlap và Catton, 1979:248 dẫn lại Nguyễn Anh Tuấn, 2002:37-43).
Theo các bài viết của những tạp chí trên, tại Nam Bộ, các nhà xã hội học đang hướng đến hai vấn đề chính là sự quan tâm và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu của các cộng đồng cư dân khác nhau, chủ yếu là tại Đồng bằng sông Cửu Long (Lê Thanh Sang, 2009; Lê Thanh Sang, Bùi Đức Kính 2010; Nguyễn Xuân Mai, 2007).
Thứ nhất là các nghiên cứu về kiến thức, thái độ, hành vi (sự quan tâm) của người dân đối với biến đổi khí hậu. Một khảo sát thuộc Chương trình cấp Bộ “Những vấn đề cơ bản trong sự phát triển của vùng Tây Nam Bộ” đáng chú ý năm 2008 do Viện Phát triển bền vững vùng Nam Bộ tiến hành. Mẫu khảo sát được thực hiện bằng phương pháp chọn mẫu khu vực, nhiều giai đoạn, đại diện cho toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Quy mô mẫu khảo sát gồm 900 hộ thuộc 30 phường, xã, thị trấn được chọn ngẫu nhiên hệ thống để khảo sát. Nghiên cứu này đã cho thấy mức độ hiểu biết và quan tâm của người dân đối với biến đổi khí hậu còn thấp. Kết quả khảo sát mẫu tại Tây Nam Bộ năm 2008 cho thấy hơn 1/3 dân số đô thị và gần ½ dân số nông thôn chưa từng nghe nói đến biến đổi khí hậu. Gần ¼ số người đã nghe nói đến biến đổi khí hậu nhưng không quan tâm. Các yếu tố cá nhân như độ tuổi, học vấn có ảnh hưởng tích cực đối với việc tiếp cận thông tin và sự quan tâm. Tivi, radio, và báo chí là những kênh truyền thông chủ yếu đối với vấn đề biến đổi khí hậu (Lê Thanh Sang, 2009:36).
Thứ hai là nghiên cứu về khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu của các cộng đồng cư dân khác nhau, chủ yếu là tại Đồng bằng sông Cửu Long. Các bài viết về chủ đề này cho thấy thích ứng với biến đổi khí hậu là giải pháp chiến lược để ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam nói chung và Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng. Cách tiếp cận dựa trên tổn thương, dựa vào cộng đồng, và dựa vào hệ sinh thái, trên cơ sở phối, kết hợp các nguồn lực và các chủ thể trong vùng, là cách tiếp cận phù hợp để Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu đang ngày càng tăng (Lê Thanh Sang, Bùi Đức Kính, 2010:41). Các tác giả nhận định rằng chính phủ Việt Nam đã tích cực tham gia vào các hoạt động chung của quốc tế, thành lập các cơ quan nghiên cứu và xây dựng các phương án ứng phó biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, những nỗ lực này chỉ mới thể hiện ở một số bộ, ngành trung ương được giao nhiệm vụ trực tiếp liên quan đến các hoạt động này. Nhiều bộ, ngành còn chưa tham gia đúng mức. Cơ sở dữ liệu khoa học về biến đổi khí hậu còn rất hạn chế. Ở cấp độ địa phương và cộng đồng, nhận thức về vấn đề này còn đơn giản và vai trò tích cực, chủ động của mỗi cộng đồng chưa được quan tâm đúng mức. Để ứng phó với biến đổi khí hậu đạt hiệu quả, cần phải có tri thức khoa học liên ngành và đa ngành, trong đó không thể thiếu sự đóng góp của khoa học xã hội (Lê Thanh Sang, Bùi Đức Kính, 2010:45-52).
Một bài viết khác đề cập đến phương thức sinh kế của người dân ở các vùng ngập mặn phía Nam có liên quan đến ảnh hưởng của biến đổi khí hậu (Nguyễn Xuân Mai, 2007). Dữ liệu trong bài viết này từ cuộc khảo sát kinh tế-xã hội vùng ngập mặn Nam Việt Nam do Viện Xã hội học và Trung tâm nghiên cứu phát triển Kinh tế-xã hội SEDEC thực hiện vào năm 2005-2006, với 950 phiếu điều tra hộ ở 19 xã và các nghiên cứu định tính tại 49 xã thuộc 4 tỉnh: Bạc Liêu, Cà Mau, Trà Vinh, Sóc Trăng. Theo tác giả này, sự thay đổi về độ che phủ của rừng ngập mặn, biến động thời tiết, sự di dân và tái định cư, dịch cúm gia cầm, dịch bệnh ở tôm, v.v. đã làm thay đổi chiến lược sinh kế của các hộ gia đình vùng ngập mặn. Một số các chiến lược sinh kế đó là đa dạng hóa nghề nghiệp, thay đổi việc làm, điều chỉnh các nguồn lực tài nguyên như đất đai và mặt nước nuôi trồng thuỷ sản, vay vốn, v.v. dựa trên các nguồn lực con người, vốn xã hội, vốn thiên nhiên hay tài nguyên (rừng, mặt nước nuôi trồng thủy sản, nguồn lợi biển, đa dạng sinh học), v.v. Bài viết chú trọng phân tích nhóm yếu thế (nghèo, dân tộc Khmer, nhóm tái định cư, mù chữ) có nguồn lực vật chất, tài nguyên, tài chính rất hạn chế nên chiến lược sinh kế của họ chủ yếu là sử dụng tối đa nguồn lực lao động và khai thác nguồn lợi ven biển để đa dạng hóa nguồn thu nhập. Tuy nhiên, họ có thể làm gia tăng nguy cơ cạn kiệt nguồn tài nguyên vùng ngập mặn, mất đi sự đa dạng sinh học. Tác giả đưa ra một số giải pháp thích ứng với thay đổi môi trường như phát triển ngành thủy sản, cung cấp vốn tín dụng, phát triển rừng ngập mặn và đa dạng sinh học (Nguyễn Xuân Mai, 2007:59-65).
Ngoài ra, bài viết của tác giả Bùi Đức Kính (2009) trình bày một nghiên cứu áp dụng CVM (Contigent Valuation Method-phương pháp định giá ngẫu nhiên) để định giá cấp nước sinh hoạt ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Nghiên cứu định lượng có kết hợp thu thập dữ liệu định tính này trong bối cảnh người dân Đồng bằng sông Cửu Long đang gặp khó khăn về nguồn nước sinh hoạt do nước bị nhiễm phèn, nhiễm mặn, nhiễm chất asen (thạch tín) hoặc bị ô nhiễm do hoạt động sản xuất-tiêu dùng. Nghiên cứu được tiến hành tại xã Phước Vĩnh Đông, tỉnh Long An, là nơi có nguồn nước bị ô nhiễm nặng nhất tại Đồng bằng sông Cửu Long. Nhóm nghiên cứu đã chọn 219 hộ gia đình để phỏng vấn bảng hỏi và 8 cuộc phỏng vấn sâu, 3 cuộc thảo luận nhóm tập trung đối với người dân, cán bộ địa phương. Nghiên cứu cho thấy khi thiết kế dự án cấp nước cho nông thôn, cần phải quan tâm đến các nhân tố tác động đến khả năng chi trả của người dân cho dịch vụ cung cấp nước như vị trí địa lý, giới tính, số người già trong gia đình, v.v.
Tóm lại, số lượng bài viết về chủ đề biến đổi khí hậu dưới góc nhìn xã hội học được đăng trên các tạp chí trên khá hạn chế. Tuy vậy, những đóng góp bước đầu của những nhà xã hội học trong giải quyết các vấn đề về biến đổi khí hậu tại Đồng bằng sông Cửu Long rất đáng trân trọng. Các nhà xã hội học và nhân học có những điểm chung trong quan điểm về cách tiếp cận thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu như tiếp cận dựa trên tổn thương, dựa vào cộng đồng, và dựa vào hệ sinh thái sẽ được trình bày dưới đây.
3. MỘT SỐ HƯỚNG TIẾP CẬN CỦA NHÂN HỌC LIÊN QUAN ĐẾN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Biến đổi khí hậu là chủ đề ít khi được đề cập một cách trực tiếp trong các nghiên cứu nhân học/dân tộc học nhưng lại được nhắc đến gián tiếp thông qua các tri thức bản địa, chính sách nhà nước có liên quan tới thích ứng biến đổi khí hậu như quản lý, sử dụng tài nguyên rừng và nguồn nước, canh tác nông nghiệp, định canh định cư, an ninh lương thực, sức khỏe cộng đồng, v.v. Theo chúng tôi, các bài viết này tiếp cận chủ yếu dưới góc độ nhân học sinh thái (ecological anthropology), và một số ít có liên quan đến nhân học y tế (medical anthropology).
3.1 Hướng tiếp cận của nhân học sinh thái
Vấn đề sinh thái, môi trường từ lâu là chủ đề quan tâm của các nhà nhân học/dân tộc học. Nhân học hướng tới sự khám phá cách thức văn hóa có ảnh hưởng đến mối tương tác theo thời gian giữa con người và hệ sinh thái trong môi trường sống của họ. Các nhà nhân học quan tâm đến một nền văn hóa cụ thể có ảnh hưởng như thế nào đến các quyết định hàng ngày trong việc lựa chọn, đưa ra các hành vi tác động đến các nguồn tài nguyên (Sponsel, 2008 dẫn lại Nguyễn Công Thảo, 2009:49).
Biến đổi khí hậu đe dọa tới sự đa dạng sinh học hiện có vai trò rất quan trọng đối với sinh kế của cộng đồng dân cư nông thôn và vùng dân tộc thiểu số. Phương thức mưu sinh của hầu hết các dân tộc thiểu số thường phụ thuộc nhiều và trực tiếp vào sự đa dạng sinh học, môi trường tự nhiên. Khai thác những nguồn lợi chung như cá, đất chăn thả hoặc rừng có thể tạo thu nhập, cung cấp lương thực, công cụ, nhiên liệu, thức ăn cho gia súc và vật liệu xây dựng. Do đó, các vùng dân tộc thiểu số thường bị ảnh hưởng nặng nề khi môi trường bị xuống cấp, hoặc đa dạng sinh học bị mất đi, hoặc khả năng tiếp cận của họ tới những nguồn tài sản chung đó bị hạn chế. Nạn khan hiếm nước và sự bạc màu của đất mang tính quyết định đến việc duy trì hoạt động sinh kế dựa vào nông nghiệp và chăn thả của địa phương (Lâm Minh Châu, 2007; Nguyễn Quang Tân, 2009; Trần Văn Hà, Đặng Thị Hoa, 2009).
Hiện nay, những vấn đề chính mà nhà nhân học/dân tộc học quan tâm là chính sách môi trường, quản lý rừng, canh tác nông nghiệp nương rẫy, những xung đột về môi trường, tranh chấp nguồn tài nguyên, bảo tồn đa dạng sinh học (Robbin, 2004; Blaikie, 1985 dẫn lại Nguyễn Công Thảo, 2009:53). Theo hai hướng, về phía cộng động, nhà nhân học/dân tộc học tìm hiểu hành vi ứng xử của cộng đồng với môi trường tự nhiên đặt trong bối cảnh lịch sử- văn hóa cụ thể. Về phía chính sách nhà nước, nhà nhân học/dân tộc học quan tâm sự tác động của các chính sách sinh thái-môi trường đối với vùng dân tộc thiểu số. Nhân học cũng nhấn mạnh tính đa dạng và phức hợp của môi trường tự nhiên, điều mà các nhà hoạch định chính sách cần cân nhắc trong mối tương tác với cộng đồng.
3.1.1 Nghiên cứu mối quan hệ giữa di dân, định canh định cư, quản lý tài nguyên rừng và biến đổi khí hậu
Trong số tạp chí trên, không có các bài viết dưới góc độ nhân học về di dân do biến đổi khí hậu (cá nhân tìm kiếm việc làm và nơi định cư mới). Tuy nhiên, di dân có quy mô lớn (cộng đồng, một số dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc có phương thức sinh kế du canh du cư) theo chính sách định canh định cư (ĐCĐC) của nhà nước được đề cập trong nhiều bài viết (Nguyễn Văn Toàn, 2011; Nguyễn Văn Chính, 2008; Vương Xuân Tình, 2003, v.v). Du canh du cư hay định canh định cư với với phương thức canh tác nương rẫy có liên quan đến sự tăng giảm của diện tích rừng và sự xói mòn đất. Trong khi đó, nguyên tố carbon được lưu giữ trong tầng lá mục dưới các tán rừng. Đây là một trong những nguyên nhân liên quan đến biến đổi khí hậu cũng như sự gia tăng khối lượng khí carbon dioxide (CO­2).  
Các nhà nước trên thế giới đang đẩy mạnh thực hiện ĐCĐC với các nhóm cư dân du canh và du cư. Ở Việt Nam, hầu hết các dân tộc thiểu số đều canh tác nương rẫy ở những mức độ khác nhau. Vì thế, ĐCĐC các dân tộc thiểu số du canh được coi là một yêu cầu cấp thiết trong chiến lược phát triển miền núi (Lê Ngọc Thắng và cộng sự, 2006:5 dẫn lại Nguyễn Văn Toàn, 2011:15). Nhìn chung, nhân học/dân tộc học nghiên cứu ĐCĐC theo ba hướng: 1) ĐCĐC và mối quan hệ giữa nhà nước với tộc người; 2) Nông nghiệp du canh và ĐCĐC; 3) Tác động của ĐCĐC đối với xã hội, văn hóa tộc người và môi trường.
Từ các công trình, bài viết cho thấy, có hai quan điểm khác nhau về nông nghiệp du canh. Các chính phủ thường xem canh tác nương rẫy như một phương thức canh tác “lạc hậu” cần xóa bỏ (Goudineau và cộng sự, 2004:17).  Ngược lại, các nhà nhân học xem nông nghiệp du canh như một hệ thống kinh tế, xã hội và văn hóa đặc trưng cho phép cư dân thích ứng khá tốt với môi trường (Nguyễn Văn Chính, 2008:44-45). Hệ thống nông nghiệp nương rẫy duy trì mức độ cao của đa dạng sinh học, duy trì thành công chức năng sinh kế bền vững, văn hóa tộc người và đa dạng sinh học (Xu và cộng sự, 2009; Podoch và cộng sự, 2010). Nhiều nghiên cứu có chung nhận định rằng, việc nhà nước thực hiện tái định cư những người dân du canh có thể là sai lầm. ĐCĐC làm cho không gian sống của cư dân bị thu hẹp, mai một văn hóa truyền thống, kiến thức bản địa không được sử dụng, đất đai canh tác nghèo kiệt dần; quyền sở hữu đất đai truyền thống bị thay đổi, tài nguyên bị khai thác mạnh mẽ nhưng người dân bản địa không được hưởng lợi (Marshall, 2006; Leskinen, 1989).
Bên cạnh đó, một số công trình tập trung đánh giá tác động của ĐCĐC ở những lĩnh vực cụ thể như: vấn đề dân số, sinh đẻ, nguồn dinh dưỡng trong chế độ ăn uống và sức khỏe của người dân; quyền sử dụng đất và quản lý nguồn tài nguyên, v.v. Các nhà nhân học thường lo lắng về sự phai nhạt bản sắc văn hóa và những bất ổn xã hội do ĐCĐC gây ra. Tuy nhiên, các nhà nhân học nhận định du canh truyền thống không thể tiếp tục như trước đây và can thiệp là cần thiết nhưng làm sao để phát huy được tri thức bản địa của người dân trong ĐCĐC (Đặng Nghiêm Vạn, 1975, 1982; Bùi Minh Đạo, 2000; Phan Hữu Dật, 2004; Nguyễn Văn Chính, 2005 dẫn lại Nguyễn Văn Toàn, 2011:15-22).
Nhìn chung, các nội dung nghiên cứu, số liệu được phân tích được so sánh đa dạng theo cả chiều đồng đại và lịch đại đem lại cái nhìn toàn cảnh và có hệ thống. Những đánh giá định tính thường có độ khái quát cao và nguồn tài liệu tham khảo phong phú. Các nghiên cứu về ĐCĐC và môi trường ở Việt Nam đã sớm nhận được sự quan tâm ở trong và ngoài nước với nhiều các tiếp cận khác nhau. Tuy nhiên, cho đến nay còn thiếu vắng những công trình mang tính hệ thống và liên ngành (Nguyễn Văn Toàn, 2011:22).
Ngoài ra, các nhà nhân học/dân tộc học quan tâm đến vai trò của luật tục trong quản lý, sử dụng đất rừng ở các dân tộc (Mạc Đường, 1962; Nguyễn Từ Chi, 1996; Ngô Đức Thịnh, 1977; Phạm Quang Hoan, 1994; Nguyễn Ngọc Thanh, 1999, 2002). Nghiên cứu về rừng cộng đồng mới ở Việt Nam trong thời gian gần đây, chủ yếu phục vụ cho giao đất, giao rừng và cung cấp những luận cứ khoa học cho việc thực hiện chính sách giao đất, giao rừng cho cộng đồng (Hà Công Tuấn, 2002; Phạm Xuân Phương, 2002; Bùi Quốc Toản, Elke Foerster, Nguyễn Văn Chiến, Thu Nhung Mlô; Ulrich Apel, Vương Xuân Tình, 2004; Trương Văn Món, 2011).
Tóm lại, các nhà nhân học/dân tộc học đã sớm quan tâm mối quan hệ giữa di dân, định canh định cư, quản lý tài nguyên rừng. Mặc dù, trong các công trình nghiên cứu chưa rõ nét có thấy mối quan hệ các yếu tố trên với biến đổi khí hậu nhưng các nhà nhân học/dân tộc học đã hướng đến những tri thức bản địa của cộng đồng cư dân trong hành xử với môi trường để đảm bảo tính bền vững, sự đa dạng sinh học.
3.1.2 Nghiên cứu về ứng phó biến đổi khí hậu và an ninh lương thực
Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận trong thời gian qua. Tuy nhiên, Việt Nam cũng đang đối mặt với sự chênh lệch nghèo đói giữa các vùng và các nhóm xã hội, dân tộc đang tăng lên, tình trạng khai thác tài nguyên thiên nhiên diễn ra nhanh và thiếu sự kiểm soát chặt chẽ (Trần Hồng Hạnh, 2009). Biến đổi khí hậu đã và đang tác động đến phương thức sinh kế, tình trạng sản xuất lương thực của các cộng đồng cư dân, đặc biệt là các vùng cao. Các nhà nhân học quan tâm đến cơ chế ứng phó của các dân tộc thiểu số với an ninh lương thực như thế nào? Các yếu tố kinh tế, xã hội, văn hóa và sinh thái ảnh hưởng tới vấn đề an ninh lương thực ra sao?
Bài viết của tác giả Phạm Quang Hoan trình bày về cơ chế ứng phó với tình trạng khan hiếm lương thực của các dân tộc thiểu số vùng cao. Bài này dựa trên một nghiên cứu định tính và định lượng từ tháng 9 năm 2005 đến 9 năm 2008 được tài trợ bởi Quỹ Rockefeller, do Viện Dân tộc học triển khai. Nghiên cứu chọn địa bàn khảo sát là bản Piêng Phô (dân tộc Thái), thuộc xã Phà Đánh và bản Bình Sơn 1 (dân tộc Khơ-mú), thuộc xã Tà Cạ, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An. Ở cấp độ hộ gia đình, nghiên cứu tập trung phân tích 5 loại vốn: vốn tự nhiên (natural capital, nguồn tài nguyên rừng), vốn xã hội (social capital), vốn con người (human capital, nhấn mạnh tình trạng sức khỏe do thiếu lương thực), vốn tài chính (financial capital), vốn vật chất (physical capital). Ở cấp độ cộng đồng, nghiên cứu tìm hiểu sự giống và khác nhau về cơ chế ứng phó của các nhóm dân tộc với tình trạng thiếu hụt lương thực. Nghiên cứu này có sự tham gia của nhóm nhân học (khía cạnh văn hóa, xã hội liên quan đến an ninh lương thực), nông học, kinh tế và y tế (các loại bệnh tật do thiếu lương thực, tình trạng dinh dưỡng) (Phạm Quang Hoan, 2009:11-17; Trần Hồng Hạnh, 2009:18-20).
Từ cuộc nghiên cứu trên tại bản Bình Sơn 1 cho thấy người Khơ-mú ở Bình Sơn 1 bị thiếu lương thực nghiêm trọng. Sự xói mòn đất đai, khí hậu ngày càng khắc nghiệt, thiên tai bất thường; tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp chưa được áp dụng trong canh tác nương rẫy, v.v. đã dẫn đến tình trạng thiếu lương thực (Trần Văn Hà, Đặng Thị Hoa, 2009). Các hộ dân có nhiều biện pháp ứng phó khác nhau như đi làm thuê lấy tiền mua lương thực, khai thác lâm sản, vay mượn, bán gia tài. Tuy nhiên, những biện pháp này chỉ mang tính ứng phó nhất thời (Nguyễn Quang Tân, 2009:42-44). Nghiên cứu cũng cho thấy các mối quan hệ gia đình, dòng họ tạo nên sự đoàn kết gắn bó đặc biệt trong làng bản nhằm đảm bảo an ninh lương thực (Nguyễn Thị Phương Nga, Đặng Thanh Phương, 2009:72). Các tác giả đề xuất trong quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi cần chú trọng nhận thức, tập quán canh tác và văn hóa tộc người ở địa phương (Trần Văn Hà, Đặng Thị Hoa, 2009:74). Ngoài ra, khai khẩn thêm ruộng bậc thang và giao rừng cho dân kết hợp với các biện pháp chính sách về hưởng lợi từ rừng được khuyến khích (Nguyễn Quang Tân, 2009:45; Trần Danh Thìn, 2009:46; Nguyễn Thị Phương Nga, Đặng Thanh Phương, 2009:73).
Như vậy, các nhà nhân học/dân tộc nghiên cứu tập trung vào khả năng và hành vi ứng phó an ninh lương thực có tác động từ biến đổi khí hậu của các dân tộc thiểu số. Đây là một hướng nghiên cứu cần triển khai nhiều hơn tại các cộng đồng cư dân tại Tây Nguyên.
3.2 Biến đổi khí hậu và vấn đề sức khỏe, bệnh tật
Trong các tạp chí trên, chỉ có một số ít nghiên cứu nhân học liên quan không nhiều đến biến đổi khí hậu và sức khỏe cộng đồng. Tuy nhiên, sức khỏe cộng đồng là một vấn đề rất quan trọng trong nghiên cứu về biến đổi khí hậu, và hiện nay chưa được chú ý nhiều dưới góc độ khoa học xã hội. Dưới đây, bài viết cố gắng đưa ra một số hướng nghiên cứu về chủ đề này hơn là tổng quan các nghiên cứu như các nội dung đã trình bày trên.
Trong nghiên cứu nhân học/dân tộc học, vấn đề sức khỏe và bệnh tật đặt trong bối cảnh sự thay đổi về môi trường sống, biến đổi khí hậu đã tác động đến người dân vùng dân tộc thiểu số được chú trọng. “Sức khỏe và bệnh tật là thước đo để đánh giá hiệu quả của sự kết hợp các yếu tố văn hóa và sinh học của những nhóm dân cư sống trong môi trường đó” (Lieban, 1973:1031 dẫn lại Nguyễn Văn Thắng, Đặng Vũ Trung, 2003:54). Nhân học y tế quan tâm mối quan hệ giữa văn hóa, sinh thái và y tế trong nghiên cứu các vấn đề bệnh tật của con người. Ở cấp vi mô, nhân học y tế xem xét các tín ngưỡng, tập quán có vai trò chi phối những cách ứng xử của con người với bệnh tật. Ở cấp vĩ mô, nhân học y tế xem xét những mối quan hệ tương tác giữa các nhóm người trong lịch sử, ảnh hưởng của các xung đột chính trị, sự di dân và sự mất mát cân đối về nguồn tài nguyên mang tính toàn cầu đến bệnh tật (Brown, 1996). Sức khỏe của con người phụ thuộc vào khả năng của xã hội kiểm soát sự tương tác giữa con người đến môi trường. Sự kiểm soát này bao gồm duy trì một khí hậu ổn định và tính liên tục của nguồn tài nguyên thiên nhiên, cũng như duy trì chức năng mang tính liên tục của các hệ thống tự nhiên để có thể tiếp nhận các chất thải của xã hội loài người (Phạm Văn Lình, Võ Văn Thắng, 2008:21).
Nhân học y tế hướng đến một số vấn đề chính về sức khỏe cộng đồng cư dân trong bối cảnh biến đổi khí hậu như:
– Đánh giá nguy cơ dịch bệnh tại các vùng dễ thị tổn thương do biến đổi khí hậu. Ở một số tỉnh Tây Nam Bộ, nhiều địa phương, nước bề mặt không tốt, nguồn nước ngầm lại rất khó kiếm tìm và khó khai thác, nhân dân phải trữ nước mưa quanh năm, thuận lợi cho muỗi sinh sôi. Ngoài ra, do biên độ thuỷ triều, chung quanh vườn nhà thường có những vũng nước động. Phân bố dịch bệnh cũng có tính theo mùa. Bệnh sốt xuất huyết thường xảy ra vào các mùa mưa, các bệnh nhiễm trùng đường ruột thường xảy ra vào mùa hè trong năm. Đó là do muỗi phát triển nhiều vào mùa mưa và ruồi phát triển mạnh về mùa hè (Phạm Văn Lình, Võ Văn Thắng, 2008:112). Phạm vi của bệnh sốt rét liên quan tới sự gia tăng dân số và phá hoại rừng, gắn liền với sản xuất lương thực (Vũ Minh Chi, 2008:72). Cuộc sống du canh du cư của đồng bào dân tộc thiểu số thường thiếu những cơ hội chăm sóc sức khỏe.
– Đánh giá thực trạng sức khoẻ của các nhóm cư dân dễ tổn thương do biến đổi khí hậu như người nghèo, phụ nữ, trẻ em suy dinh dưỡng, người già, v.v. Tình trạng nóng lên làm thay đổi cấu trúc mùa nhiệt hàng năm. Ở miền Bắc, mùa đông sẽ ấm lên, dẫn tới thay đổi đặc tính trong nhịp sinh học của con người. Nhiệt độ tăng làm tăng tác động tiêu cực đối với sức khoẻ con người, dẫn đến gia tăng một số nguy cơ đối với tuổi già, người mắc bệnh tim mạch, bệnh thần kinh. Thiên tai như bão, tố, nước dâng, ngập lụt, hạn hán, mưa lớn và sạt lở đất v.v. gia tăng về cường độ và tần số làm tăng số người bị thiệt mạng và ảnh hưởng gián tiếp đến sức khoẻ thông qua ô nhiễm môi trường, suy dinh dưỡng, bệnh tật. Biến đổi khí hậu làm tăng khả năng xảy ra một số bệnh nhiệt đới: sốt rét, sốt xuất huyết, làm tăng tốc độ sinh trưởng và phát triển nhiều loại vi khuẩn và côn trùng, vật chủ mang bệnh, làm tăng số lượng người bị bệnh nhiễm khuẩn dễ lây lan.
– Tìm hiểu hành vi ứng xử của cộng đồng trong chăm sóc sức khỏe ứng phó với biến đổi khí hậu; Những tập quán, tín ngưỡng có vai trò chi phối như thế nào trong hành vi của con người với bệnh tật; Tri thức bản địa trong chăm sóc sức khỏe; Kinh nghiệm chữa bệnh của phụ nữ trong cộng đồng. Mức độ ảnh hưởng đến sức khỏe phụ thuộc vào sự can thiệp và hành vi của con người, ví dụ loại bỏ các khu vực đầm lầy ngập nước ở nơi định cư hay gần khu dân cư làm giảm đáng kể tỉ lệ mắc bệnh sốt rét do muỗi anopheles. Vệ sinh quang cảnh xung quanh nhà, loại bỏ nơi sinh để của muỗi aedes ở trong nhà có thể ngừa được bệnh sốt xuất huyết. Các biến cố tự nhiên như lụt, bão, hạn hán có tác động lớn đến sinh mạng và sức khỏe. Sự thiếu hụt nước sạch, nguồn thực phẩm, nơi cư trú trong và sau các thiên tai, và ô nhiễm môi trường, côn trùng trung gian truyền bệnh phát triển, sự quá tải của các dịch vụ y tế, tâm lý lo lắng, sợ hãi của người dân (Phạm Văn Lình, Võ Văn Thắng, 2008:112-115).
– Đánh giá tác động của chính sách và các chương trình can thiệp lên vấn đề chăm sóc sức khỏe. Những chương trình chăm sóc sức khỏe nên luôn được thiết kế không chỉ tuyên bố những vấn đề y học mà còn lôi cuốn được sự tham gia của cộng đồng. Tìm hiểu những nhu cầu các cộng đồng khác nhau, đặc điểm về quan niệm, niềm tin của cộng đồng đó về sức khỏe và bệnh tật của chính họ để có chương trình can thiệp phù hợp. Nhân học y tế sẽ giúp tìm ra những nhu cầu và những trường hợp đặc biệt của những cộng đồng khác nhau, đặc điểm về quan niệm, niềm tin của cộng đồng đó về sức khỏe và bệnh tật của chính họ để có chương trình can thiệp hiệu quả.
Về phương pháp, nhân học y tế sử dụng những phương pháp của ngành nhân học như phương pháp quan sát tham dự, điền dã dân tộc học kết hợp các dữ liệu định lượng (Nguyễn Công Thảo, 2009:54). Ngoài ra, về phương diện sinh học, nhân học y tế sử dụng những kỹ thuật và công cụ của khoa học y học và những chuyên ngành khác như vi sinh học, hóa sinh, di truyền học, ký sinh trùng, bệnh học, dinh dưỡng và dịch tễ học. Các nhà nhân học, xã hội học và dịch tễ học đã hướng sự chú ý đến các biến số về xã hội và văn hóa như là những tiền tố của sức khỏe (antecedents of health). Các biến số này bao gồm tình trạnh kinh tế xã hội (socio-economic status), chủng tộc/nhóm dân tộc, vai trò của giới và giới tính, sự di dân, mạng lưới xã hội và sự hỗ trợ xã hội, và môi trường lao động về mặt tâm lý xã hội. Đây là những biến số đã được nghiên cứu nhiều, có những phương pháp tin cậy để đo lường, và có lý do đầy đủ để tin rằng các biến số này tương tác với các đặc trưng về hành vi và về di truyền ảnh hưởng đến sức khỏe (Phạm Văn Lình, Võ Văn Thắng 2008:115).
Tóm lại, các chủ đề liên quan đến biến đổi khí hậu mà các nhà nhân học và xã hội học quan tâm là khá phong phú. Hai vấn đề chính mà nhà nhân học và xã hội học hướng đến là nhận thức, thái độ và các hướng thích ứng của cộng đồng đối với biến đổi khí hậu. Về hướng thích ứng, các nhà xã hội học có lưu ý hướng “thích ứng dựa vào cộng đồng” (community-based adaption-CBA) và hướng “thích ứng dựa và hệ sinh thái” (ecosystem-based adaption-EBA) (Lê Thanh Sang, 2010:47). Đối với các nhà nhân học, đó là hướng thích ứng dựa vào tri thức bản địa như quản lý, sử dụng tài nguyên rừng, nguồn nước, chăm sóc sức khỏe, phương thức sinh kế, v.v để ứng phó với biến đổi khí hậu (Đặng Vũ Trung, 2003:54; Vương Xuân Tình, 2008; Nguyễn Công Thảo, 2009).
KẾT LUẬN
Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu có chiều hướng ngày càng tăng, ít ra trong vài thập niên nữa (Lê Thanh Sang, 2010:51). Việt Nam nên có chiến lược giảm phát thải khí nhà kính đồng thời thích ứng với biến đổi khí hậu. Chiến lược giảm phát thải khí nhà kính bao gồm hai vấn đề lớn. Một là sử dụng các công nghệ có mức phát thải thấp trong sản xuất và sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Hai là có những chính sách và biện pháp tăng cường bể hấp thụ khí nhà kính, phát triển và bảo vệ rừng, trồng và tái trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc (Trần Thục, Lê NguyênTường, 2010:21). Chiến lược thích ứng của cộng đồng đối với vấn đề biến đổi khí hậu là “thích ứng dựa vào cộng đồng” và “thích ứng dựa và hệ sinh thái”, cũng như thích ứng dựa vào tri thức bản địa như quản lý, sử dụng tài nguyên rừng, nguồn nước, chăm sóc sức khỏe, phương thức sinh kế, v.v.
Việt Nam đang tiếp tục thực hiện các hoạt động nghiên cứu về thích ứng với biến đổi khí hậu. Các hoạt động nàynhằm trả lời các câu hỏi: Những khu vực nào của đất nước sẽ phải chịu ảnh hưởng nhiều  nhất của biến đổi khí hậu; Những ngành kinh tế nào sẽ chịu ảnh hưởng xấu; Có những hoạt động nào thu được lợi ích từ những hậuquả tiềm năng của biến đổi khí hậu; Những biện pháp nào có thể giảm được nhiều nhất tính dễ bị tổn thương; vàlàm thế nào để lồng ghép sự thích ứng vào những chiến lược phát triển ưu tiên khác (Trần Thục, Lê Nguyên Tường, 2010:21).
Ngoài ra, biến đổi khí hậu là một vấn đề phức tạp, ứng phó với biến đổi khí hậu cần phải có tri thức khoa học liên ngành và đa ngành (Lê Thanh Sang, 201051-52). Các nhà khoa học tự nhiên cần quan tâm hơn đến tiếng nói của các đồng nghiệp từ các ngành khoa học xã hội, và ngược lại, những phát hiện của khoa học tự nhiên cần được các nhà khoa học xã hội nhìn nhận nhiều hơn là dưới những con số mà đôi khi họ trích dẫn trong các công trình nghiên cứu của mình (Nguyễn Công Thảo 2009:57).
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Bộ Tài nguyên Môi trường. 2009. Chương trình Mục tiêu Quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu tại Việt Nam. Hà Nội tháng 6/2009.
  2. Bùi Đức Kính.2009. Áp dụng CVM để định giá cấp nước nông thôn Đồng bằng sông Cửu Long: Trường hợp xã Phước Vĩnh Đông. Tạp chí Khoa học Xã hội số 01/2009.
  3. Cao Đức Thái, Trần Thị Hồng Hạnh.2009. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, suy thoái môi trường đến các quyền con người ở Việt Nam hiện nay. Tạp chí Nghiên cứu con người, số 1/ 2009.
  4. Nguyễn Văn Thắng, Đặng Vũ Trung.2003. Nhân học y tế ứng dụng. Nxb Đại học y tế công cộng Hà Nội.
  5. Đào Quang Vinh.2009. Chăm sóc sức khỏe và an ninh lương thực. Tạp chí Dân tộc học số 1&2/2009.
  6. Lâm Minh Châu.2007. Tri thức địa phương của người Thái về sử dụng và quản lý tài nguyên thiên nhiên. Tạp chí Dân tộc học số 5/2007.
  7. Lê Thanh Sang, Bùi Đức Kính.2010. Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu. Tạp chí Khoa học Xã hội số 11+12/2010.
  8. Lê Thanh Sang.2009. Biến đổi khí hậu và sự quan tâm của người dân Đồng bằng sông Cửu Long. Tạp chí Khoa học Xã hội số 9/2009.
  9. Mai Văn Tùng.2010. Kinh nghiệm sử dụng nước làm ruộng của người Mường ở huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa.Tạp chí Dân tộc học số 3/ 2010.
  10. Nguyễn Công Thảo.2009. Một số hướng tiếp cận nghiên cứu về mối quan hệ giữa con người và môi trường. Tạp chí Dân tộc học số 3/2009.
  11. Nguyễn Quang Tân.2009. Cơ chế ứng phó với tình trạng khan hiếm lương thực tại cộng đồng người Thái và Khơ-mú ở vùng cao tỉnh Nghệ An, Việt Nam: Từ góc nhìn kinh tế học. Tạp chí Dân tộc học số 1&2/2009.
  12. Nguyễn Thị Thanh Nga, Đặng Thanh Phương.2009. Ảnh hưởng của các yếu tố xã hội và văn hóa đến an ninh lương thực của người Thái (Nghiên cứu ở bản Piêng Phô, xã Phà Đánh, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An). Tạp chí Dân tộc học số 1&2/2009.
  13. Nguyễn Văn Toàn.2011. Tổng quan nghiên cứu về định canh định cư. Tạp chí Nghiên cứu con người, số 5/2011.
  14. Nguyễn Thị Hòa.2010. Một số tác động của biến đổi khí hậu. Tạp chí Nghiên cứu phát triển bền vững, số 1/2010.
  15. Nguyễn Tấn Dân, Lại Tùng Quân.2010. Hoạt động sản xuất và sinh sống của người dân trong vùng đệm vườn quốc gia Lò Go-Xa Mát và tác động của nó tới môi trường. Tạp chí Nghiên cứu phát triển bền vững, số 1/2010.
  16. Phạm Văn Lình, Võ Văn Thắng.2008. Nhân học y tế. Nxb Đại Học Y Dược Huế.
  17. Phạm Quang Hoan.2009. Cơ chế ứng phó với tình trạng khan hiếm lương thực của các dân tộc thiểu số ở vùng cao Việt Nam và CHDCND Lào: Nâng cao năng lực và hợp tác nghiên cứu giữa Viện Dân tọc học (VIệt Nam) và Viện nghiên cứu văn hóa (Lào). Tạp chí Dân tộc học số 1&2/2009.
  18.  Pisupati, B. và E.Warner.2003. Đa dạng sinh học và các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ. IUCN/UNDP, 2003.
  19. Trịnh Thị Lan.2010. Ảnh hưởng của di chuyển lao động theo mùa vụ tới đời sống gia đình nông thôn hiện nay. Tạp chí Dân tộc học số 6/2010.
  20.  Trần Thục, Lê Nguyên Tường.2008. Bàn về một số biện pháp mới để thích ứng với biến đổi khí hậu. Tạp chí Tài nguyên Môi trường, số tháng 2/2008.
  21.  Trần Thục, Lê Nguyên Tường.2008. Những tác động của biến đổi khí hậu đối với nước ta. Tạp chí Tài nguyên Môi trường số tháng 4/2008.
  22. Trần Hồng Hạnh.2009. Tổng quan về an ninh lương thực. Tạp chí Dân tộc học số 1&2/2009.
  23. Trần Danh Thìn.2009. Canh tác nương rẫy và cơ chế ứng phó với tình trạng khan hiếm lương thực của người Thái và người Khơ-mú ở huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An. Dân tộc học số 1&2/2009.
  24. Trần Văn Hà, Đặng Thị Hoa.2009. Ảnh hưởng của yếu tố xã hội và văn hóa đến cơ chế ứng phó với tình trạng thiếu lương thực của người Khơ-mú (Nghiên cứu ở bản Bình Sơn I, xã Tà Cạ, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An). Tạp chí Dân tộc học số 1&2/2009.
  25. Trịnh Thị Kim Ngọc.2009. An ninh con người trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu. Tạp chí Nghiên cứu con người, số 6/2009.
  26. Trương Văn Món.2011. Sự biến đổi kinh tế-môi trường ở vùng người Raglai hiện nay. Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ, tập 14, số X3/2011.
  27.  Trần Hữu Sơn, Bàn Khánh Thanh.2011. Văn hóa ứng xử của người Dao Đỏ với môi trường tự nhiên qua khai khẩn ruộng bậc thang ở Sa Pa. Tạp chí Dân tộc học số 4/2011.
  28.  Viện Khoa học khí tượng thủy văn và môi trường.2011. Tài liệu hướng dẫn đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và xác định các giải phóng thích ứng, Xí nghiệp In Đông Bắc Hà Nội, 2011.
  29.  Vũ Minh Chi.2008. Thuật ngữ Nhân loại học y tế. Tạp chí Nghiên cứu con người, số 5/2008.

(Bài viết tham luận Hội thảo khoa học: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TỪ GÓC NHÌN CỦA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN – Viện PTBV vùng Nam bộ_05/2012).
 
[*] Thạc sỹ. Khoa Nhân học. Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh.