P3_Cuộc đời và sự nghiệp của các Nhà Nhân học Bắc Mỹ TK 19-20: Margaret Mead

 

Cuộc đời và sự nghiệp của các Nhà Nhân học Bắc Mỹ TK 19-20 (part 3)

Phan Đỗ Kim Nguyên

Margaret Mead

Mead
Margaret Mead là một nữ học giả mà tiếng tăm của bà đã vượt ra khỏi giới học thuật mà trở thành một trong “300 người phụ nữ làm thay đổi lịch sử”[1]. Là học trò trực tiếp của cả Franz Boas và Ruth Benedict, bà đã thu nhận và phát triển theo phương pháp và lý thuyết từ hai người thầy của mình. Bà ủng hộ Franz Boas trong quan điểm tương đối văn hóa, và là một phần của trường phái nhân học tâm lý cùng với Ruth Benedict. Hơn hết, qua cuộc đời và những tác phẩm nổi tiếng của bà, người ta thấy được sự nhiệt huyết của một nhà khoa học kiên trì với các chuyến điền dã trong những điều kiện hết sức khó khăn. Khả năng thích nghi, quan sát và ghi chép của một nhà nhân học xuất sắc, bà được thừa hưởng từ sự giáo dục đặc biệt mà gia đình bà cung cấp ngay từ khi còn nhỏ.

2.3.1. Tuổi thơ
Margaret Mead sinh ngày 16/12/1901 tại Philadenphia, Mỹ. Bà là con đầu trong một gia đình có 5 người con. Cha bà là Edward Sherwood Mead, giáo sư tài chính; mẹ bà là Emily Fogg Mead, nhà khoa học xã hội.  Họ gặp nhau trong lúc theo học tại Đại học Chicago. Cha mẹ bà đều là những người học vấn cao, theo đuổi các vấn đề xã hội nên ngay từ khi còn nhỏ bà đã sống trong một môi trường mà sự giáo dục và hiểu biết về xã hội được đề cao.[2] Ngoài cha mẹ, một người thân có rất nhiều ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của Margaret Mead là bà nội của bà, bà Martha Ramsay Mead – một nhà tâm lý học trẻ em, chuyên nghiên cứu về tâm lý và hành vi của trẻ nhỏ. Bà nội là người đầu tiên dạy Margaret cách tư duy để tìm hiểu lý do đằng sau những hành động nghịch ngợm của em trai bà (thường xuyên khiến bà phát điên), điều mà sau này được bà áp dụng vào những nghiên cứu về trẻ em và trẻ vị thành niên. Mẹ bà, Emily Mead, ngay từ khi biết mình có thai Margaret, đã rất quan tâm đến việc ghi lại những sự kiện xảy ra hàng ngày với con gái mình. Bà tin rằng những yếu tố xuất hiện sớm nhất sẽ ảnh hưởng nhiều nhất đến sự hình thành và phát triển nhân cách cũng như trí lực của đứa trẻ. Bà đã ghi chép tỉ mỉ trong mười ba cuốn sổ tay về những hành vi của Margaret từ khi lọt lòng. Không dừng lại ở đó, khi Margaret học tiểu học, Emily đã dạy con gái mình cách quan sát và ghi chép lại sự phát triển của hai người em gái, Elizabeth và Priscilla, lần lượt sinh vào các năm 1909 và 1911. Margaret Mead đã học cách quan sát và ghi chép này với tình yêu mà mẹ bà đã dành cho bà, bây giờ đến lượt bà dành cho những người em gái. Điều này có một phần nguyên nhân do cái chết của Katherin – một người em khác được đặt tên bởi chính Margaret – vào năm 1907, khi mới sinh được chín tháng, đã gây cho bà một chấn động tâm lý. Sự đau buồn khiến bà trở nên thận trọng và dành nhiều tình cảm hơn, cũng như quan sát kĩ lưỡng hơn và ghi chép cẩn thận về quá trình phát triển của những người em sau này của bà.
Tìm thấy những hình mẫu là điều mà tôi bắt đầu từ rất sớm, như đã nhận thấy những đặc điểm giống nhau của các thành viên trong gia đình tôi : những người thuộc thế hệ sau có mắt, mũi và mái tóc xoăn giống một số người thuộc thế hệ trước, cũng như thừa hưởng tính dí dỏm hay sắc sảo. [3]
Như trên đã nói, cha của Margaret là một giáo sư tài chính thương mại. Ông dạy tại trường Wharton thuộc đại học Pennsylvania. Trong khi đó, mẹ của bà theo đuổi một luận án ngành xã hội học, một nghiên cứu về nhóm người Ý ở Hammonton, New Jersey[4]. Để cả hai cùng theo đuổi được sự nghiệp của mình, gia đình Mead đã thường xuyên chuyển nhà. Trong tự truyện của mình, Margaret nhớ lại rằng trung bình mỗi năm họ chuyển chỗ ở bốn lần, đã sống trong khoảng 60 ngôi nhà khác nhau trong thời gian bà học phổ thông[5]. Bà tự ví von gia đình mình “giống như một gia đình tị nạn”. Mỗi khi đến một chỗ ở mới, Margaret lại bắt đầu một quy trình khám phá. Bà học được cách thích ứng nhanh với môi trường mới ngay từ khi còn nhỏ. Margaret Mead cũng nhận thấy tầm quan trọng của việc ghi chép lại số lượng lớn những điều bà cần nhớ như tên tuổi, địa chỉ những đứa trẻ cùng xóm, bạn của bà và các em bà. Bên cạnh việc ghi chép về những người em, bà còn được cha mẹ giao thêm nhiệm vụ cập nhật sổ địa chỉ và danh bạ điện thoại của cả gia đình, đặc biệt cần thiết khi họ di chuyển quá nhiều và thường xuyên như vậy. Tất cả những sự ghi chép này khiến bà không hề xa lạ với thể loại nhật kí điền dã khi đến với nhân học. Đây rõ ràng là một trong những thế mạnh của bà trong những nghiên cứu sau này. Trong chuyến thực địa 2 năm tại Bali (1936-1938), bà và Gregory – người chồng thứ ba – đã thu thập 28.000 ảnh chụp, nhiều bộ sưu tập tranh vẽ và đồ tạo tác. Điều quý giá nhất là bà đã thực hiện một hệ thống tham khảo đồ sộ: lập thư mục song song để xác minh từng bài hát, vở kịch, múa rối do ai đang hát diễn, tên tuổi những người ở hậu trường cũng như nhạc cụ đang được sử dụng.[6]
Cùng với việc gia đình thường xuyên di chuyển như vậy, nền giáo dục mà Margaret Mead nhận được cũng khá đặc biệt. Thời gian đến trường chính thức của bà chỉ bao gồm hai năm mẫu giáo, một năm học lớp bốn nửa buổi và sáu năm trung học. Bù lại, bà và các em bà được bà nội dạy cho nhiều kiến thức cũng như kĩ năng sống. Họ không chỉ học những tri thức khoa học thông thường trong sách vở, mà còn được dạy các môn nghệ thuật và những kĩ năng khác. Bà đã trải qua các lớp âm nhạc, vẽ, điêu khắc, đan lát thủ công từ những nghệ nhân ở mỗi nơi họ sống. Trong các môn này, bà đặc biệt bộc lộ năng khiếu về hội họa [7] – một năng khiếu đã phát huy nhiều tác dụng trong nghiên cứu nhân học, qua việc phác thảo lại những đồ tạo tác của các tộc người và hoa văn trang trí trên chúng.
Tính cách của Margaret từ nhỏ đã bộc lộ rõ rệt sự mạnh mẽ và quyết đoán. Có lẽ do vai trò chị cả trong một gia đình cha mẹ bận rộn đã làm nên điều này, cũng có lẽ do bản chất của cách giáo dục trong gia đình bà: cha mẹ bà đã chú ý cho việc để những đứa con mình phát triển một cách tự do. Bà được cha dạy cho nhiều điều. Từ ông, bà hiểu được rằng khi trình bày điều gì đó phải chú ý đến khả năng hiểu vấn đề của người nghe. Sau này, những bài thuyết trình khắp thế giới với nhiều thành phần tham dự khác nhau của bà đã chứng minh bà hoàn toàn tiếp thu được bài học này. Cha mẹ bà dạy bà quý sách và  coi trọng việc đọc sách cũng như những bài học đạo đức được rút ra từ thực tiễn. Một lần đi dạo với mẹ, Margaret Mead hái một bông hoa trong công viên, và mẹ bà đã khiến bà khiếp sợ khi đưa bà đến gặp người cảnh sát để “giao nộp” bông hoa ấy. Mặc dù người cảnh sát chỉ nhìn bà rồi cười, nhưng bài học về ý thức nơi công cộng đã in sâu trong bà.[8]
Cha mẹ bà đã sống với nhau rất hạnh phúc và hòa hợp. Margaret Mead cũng hi vọng một tình cảm gắn bó như vậy với người chồng sau này của mình. Những năm trung học, bà gặp Sheeleigh Luther Cressman[9], em trai của một trong những giáo viên của bà tại trường trung học Doylestown. Họ yêu nhau và nhanh chóng hứa hôn vào một đêm giao thừa lãng mạn, năm 1917, khi bà mới 16 tuổi. Năm năm sau, vào ngày 3/9/1923, họ kết hôn. Nhưng con đường tình cảm của Margaret không dừng lại ở đấy.
2.3.2 Đại học
Đại học đầu tiên Margaret Mead theo học là trường DePauw ở Greencastle, bang Indiana, vào năm 1919. Nhưng do muốn đến New York nên chỉ một năm sau, bà rời DePauw để đến học ở cao đẳng nữ Barnard, một trường thành viên của đại học Comlumbia.  Ban đầu bà theo chuyên ngành tiếng Anh nhưng sau đó chuyển sang tâm lý học. Sau khi tham gia một số môn chuyên đề về nhân chủng học của Franz Boas cùng với sự trợ giảng của  Ruth Benedict, bà quyết định trở thành một nhà nhân chủng học. Sự thông minh của bà đã gây ấn tượng với Boas và Benedict. Bà bắt đầu một tình bạn dài lâu đặc biệt gắn bó với Benedict, và bước vào nhân học dưới sự dẫn dắt của cả hai người. Nhiệm vụ cấp bách mà Boas đặt ra cho các nhà nhân học bấy giờ – những học trò của ông – là thu thập dữ liệu về những nền văn hóa sắp biến mất[10]. Margaret Mead đã rất sẵn sàng với công việc nghiên cứu theo phương pháp và trên nền tảng lý thuyết tương đối văn hóa mà Boas thiết lập. Bà hào hứng vạch kế hoạch cho chuyến điền dã đầu tiên của mình.
2.3.3 Những chuyến đi và thành quả
Mặc dù đã truyền nguồn cảm hứng đến học trò của mình về sự cần thiết của công tác thực địa ở những nền văn minh xa xôi, nhưng Franz Boas đã cảm thấy lo sợ khi Margaret Mead cương quyết điền dã nền văn hóa Polinesian thuộc Nam Thái Bình Dương. Ngày nay, không có gì là bất thường đối với một phụ nữ trẻ đi du lịch thế giới sau khi rời trường đại học và trước khi bắt đầu sự nghiệp. Nhưng vào thời của Margaret, việc một phụ nữ du hành một chuyến đi dài ngày, một mình, là điều hết sức lạ lùng. Những người phụ nữ trẻ đã lập gia đình như Margaret, vào thời kì đó, chỉ mong một cuộc sống ổn định và có con cái. Margaret dường như quyết định phá vỡ quy tắc khi từ chối lời khuyên của Boas là nghiên cứu các bộ lạc Indians[11] ở ngay tại Mỹ. Những khu bảo tồn người Indians đều có đường giao thông thuận tiện, phòng ngừa cho những bất trắc xảy ra. Margaret cho rằng văn hóa Indians đã bị hủy hoại do sự tiếp xúc với những người Mỹ da trắng. Ở Nam Thái Bình Dương, sự thay đổi ấy chưa xảy ra hoặc mới chỉ bắt đầu. Bà muốn đến sống tại một nơi mà nền văn hóa sơ khai của người dân bản địa vẫn tồn tại – như quần đảo Tuamotu, chẳng hạn.
Cuối cùng họ đã đi được đến thỏa thuận: Margaret không nhất thiết phải đi đến quần đảo Tuamotu, nhưng sẽ đi một nơi khác ở Nam Thái Bình Dương để nghiên cứu theo sự gợi ý của Boas, một đề tài thời sự bấy giờ: cách ứng xử của thanh thiếu niên.
Câu hỏi nghiên cứu mà bà đặt ra là: ở Mỹ, tuổi vị thành niên là một thời gian khó khăn với rất nhiều những xao động, bất an. Đã có nhiều nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực: tâm lý, giáo dục, sinh học, triết học xã hội. Kết luận cho sự khó khăn này được quy vào tính chất của giai đoạn: “thanh thiếu niên” được đặc trưng như là một giai đoạn trong đó hình thành chủ nghĩa lý tưởng và các nổi loạn chống lại uy quyền phát triển mạnh, một giai đoạn mà khó khăn và mâu thuẫn hoàn toàn là điều không thể tránh khỏi. Margaret không tin vào kết luận này. Vì không thể tạo ra một phòng thí nghiệm xã hội với các điều kiện, yếu tố được kiểm soát chặt chẽ để phục vụ nghiên cứu, bà cho rằng phương pháp duy nhất dó là nhà nhân học phải đi đến một nền văn minh khác ở một phần nào đó của thế giới để nghiên cứu. Nếu những bất an và rung động tuổi vị thành niên là hiện tượng phổ biến ở mọi dân tộc thì mới có thể kết luận đó là do yếu tố sinh vật quyết định, còn nếu không, điều đó bị quy định bởi yếu tố văn hóa. Margaret đã tiến hành nghiên cứu trong những nhóm nhỏ của người Samoa – một ngôi làng có khoảng 600 người trên vùng đảo Ta’u. Ở đó, bà tìm hiểu, quan sát, chung sống và phỏng vấn (qua phiên dịch) tổng cộng 68 phụ nữ trẻ tuổi từ 9 đến 20 và rút ra kết luận: sự chuyển tiếp từ tuổi thơ đến tuổi trường thành (vị thành niên) của người Samoa, đặc biệt là các thiếu nữ, diễn ra nhẹ nhàng, suôn sẻ[12]. Qua quan sát và phỏng vấn, bà giải thích điều này có được chủ yếu do hình thức gia đình mở rộng (extended family) của người Samoa khiến cho đứa trẻ cảm nhận được nhiều hơn tình yêu thương của các thành viên trong gia đình, cũng như không bị quá thiệt thòi hay nuông chiều bởi cha mẹ chúng. Sự thân thiết và thoải mái của gia đình mở rộng đã lan tỏa trong đời sống tình dục của thanh thiếu niên Samoa. Khác với cách trẻ em Mỹ được giáo dục, chúng (lớp trẻ Samoa) xem tình dục như một thứ trò chơi cần được học hỏi phương pháp và kĩ năng, được thử nghiệm với nhiều bạn tình. Tình dục không phải là một phần của tình yêu lãng mạn cũng không phải là một phương tiện chinh phục như quan điểm của những xã hội hiện đại bấy giờ, cũng không gây ra sự xung đột giữa cha mẹ và con cái. Trong khi ở Mỹ, các thiếu niên nhận được những thông điệp gây hổ thẹn khi đề cập đến tình dục. Bản năng và cơ thể chúng đã sẵn sàng cho một trong những nhu cầu cơ bản của con người ấy, nhưng xã hội không đồng ý về tình dục tiền hôn nhân – trong khi hôn nhân được dành cho những người ở độ tuổi 20 hoặc hơn.[13]
Mặc dù có sự ủng hộ của Boas, nhưng bản thảo đầu tiên cho tác phẩm Coming of age in Samoa của bà đã bị các nhà xuất bản hàng đầu của Mỹ từ chối. Sau đó có một nhà xuất bản non trẻ, vừa mới bắt đầu kinh doanh của William Morrow đồng ý. Và quyển sách lập tức trở thành best-seller, bán chạy đến mức người ta phải cho in tái bản lần 2 cùng lúc với đợt sách phát hành.[14]
Tự do yêu đương là một vấn đề được bàn đến rất nhiều trong những năm hai mươi của thế kỉ trước, mặc dù vậy, người ta bàn tán nhiều về nó hơn là thực sự thử nghiệm. Đó là một cú sốc đối với xã hội Mỹ bấy giờ, việc Margaret có vẻ tán đồng một cách ứng xử  khác với điều mà “mỗi người Mỹ đứng đắn” đã được dạy về tình dục, tình yêu và hôn nhân. Dĩ nhiên Margaret không gợi ý cổ xúy các thiếu nữ Mỹ lao vào những cuộc truy hoan tình dục, nhưng một vài nhà phê bình đã tin hoặc giả vờ tin bà đang làm như thế. Cũng có một vài cuộc tấn công rẻ tiền vào đời tư của bà. Vài tờ báo thắc mắc bà là “loại phụ nữ gì” mà giữ lại tên thời con gái khi đã có chồng, mà còn bỏ chồng để đi sống sáu tháng với “bọn man rợ”.[15]
Điều quan trọng là công trình của bà, ngoài việc đem lại cho bà bằng tiến sĩ vào năm 1929, nó còn khiến bà nổi tiếng trong giới học thuật với nhiều lời ca ngợi cũng như phê bình.  Malinowski gọi “Tuổi trưởng thành ở Samoa” là “một thành công ngoại hạng”, trái ngược với cảnh báo của ông trước khi Margaret lên kế hoạch đi Samoa rằng bà “không thể đạt được gì trong thời gian ngắn như thế”. Bên cạnh đó, trong giới học thuật, sự phê bình mạnh mẽ nhất về tác phẩm này là từ một nhà nhân học người New Zealand Derek Freeman[16]. Ông cho rằng kết quả nghiên cứu của bà là không trung thực hay nói đúng hơn là phương pháp mà bà thực hiện trong quá trình điền dã ở Samoa không thể đem lại những thông tin xác thực: bà chỉ học ngôn ngữ Samoa trong 10 tuần, chỉ phỏng vấn một số ít các cô gái được gọi đến nơi bà ở – một ngôi nhà của Hải quân xây theo kiểu Châu Âu – thay vì đi đến ngôi làng và quan sát, phỏng vấn họ nơi họ ở. Trong một phóng sự năm 1988, người ta còn đưa ra những dẫn chứng độc đáo hơn, rằng thật ra những phụ nữ trẻ Samoa là “những người thích đùa”[17], họ đã cung cấp những thông tin sai lệch cho Margaret như cách những cô gái trẻ vẫn hay nói đùa với nhau về tình dục (lúc này Margaret Mead 24 tuổi). Kết luận của Derek còn chỉ ra rằng Franz Boas, Ruth Benedict và các đồng nghiệp đã đón nhận công trình của Margaret một cách mặc nhiên chứ không phê bình, vì, theo Derek, nó phù hợp với những lý thuyết của họ. Cuộc tranh luận Mead – Freeman [18] trở thành một trong những cuộc tranh luận nổi tiếng trong lịch sử nghiên cứu học thuật, đặt ra nhiều vấn đề mà bất kì một người nào bước chân vào con đường khoa học đều cần ghi nhớ: sự trung thực, tính phê bình, nhưng cũng có thể là việc sáng suốt nhìn thấy được sự thay đổi của mọi thứ, kể cả con người, theo thời gian[19]
Thắng lợi to lớn nhất của Margaret Mead, qua tác phẩm này, là việc đã đưa nhân loại học ra khỏi giảng đường đại học và dành cho công chúng lĩnh hội. Lần đầu tiên, những người không phải là học giả đều có thể thấy được mục đích của nhân học. Nó đã và đang là một quyển sách đáng đọc, cho dù những kết luận bà đưa ra là xác thực hay thiếu sót. Ít nhất, “Coming of Age in Samoa” là tài liệu lưu giữ hình ảnh của xã hội và con người Samoa mà bà đã chứng kiến trong thời điểm ấy. Nó còn cho thấy từng chi tiết công việc thực địa trong giai đoạn ấy đã được thực hiện như thế nào. Margaret đã viết về cách mà “người khác” ứng xử, cung cấp tư liệu cho việc hiểu thêm về gia đình và cộng đồng của “chúng ta”.
Giữa những năm 1925 và 1939, Mead đã lần lượt nghiên cứu bảy nền văn hóa ở Nam Thái Bình Dương và Indonesia. Trong tất cả các nghiên cứu này, bà tập trung vào mối quan hệ giữa cá nhân và văn hóa, đặc biệt trong việc truyền thụ, giáo dục văn hóa  cho trẻ em. Bà là người đầu tiên áp dụng kĩ thuật và và phương pháp của tâm lý học hiện đại  cho việc nhìn nhận và thấu hiểu văn hóa.  Bà, cùng với Ruth Benedict, là những đại diện nổi bật của nhân học tâm lý. Nghiên cứu tiên phong của bà bao gồm khám phá những nhìn nhận và mong đợi khác nhau cho nam và nữ ở các xã hội khác nhau, đóng góp không nhỏ cho những gì khoa học đương thời đang có về khái niệm vai trò  giới tính.[20]
Cùng với Coming of Age in Samoa, các tác phẩm Coming of Age in New GuineaSex and Temperament in Three Primitive Societies  đã làm nên một bộ ba tập hợp nghiên cứu về đề tài quen thuộc của bà ở các nền văn hóa bản địa khác nhau. Nguồn tư liệu phong phú mà bà có được là qua những chuyến điền dã, không những để lại ấn tượng về một nữ học giả tích cực hoạt động nghiên cứu, mà còn đem lại nhiều biến cố trong đời sống cá nhân bà, nhất là về mặt tình cảm.
 
 
2.3.4. Những người đồng hành trong cuộc đời và tại thực địa
Người chồng đầu tiên của Margaret Mead là Luther Cressman. Hai người kết hôn với nhau vào tháng 9 năm 1923, không lâu sau khi Mead nhận bằng thạc sĩ tâm lý ở đại học Barnard và chuẩn bị làm tiến sĩ nhân chủng học. Tình cảm giữa họ diễn ra tốt đẹp cho đến khi Mead bắt đầu những chuyến điền dã xa xôi.
Tháng 8 năm 1925, bà đến Samoa, một mình. Vào thời kì đó, các nhà nhân học đi khám phá thực địa chưa được huấn luyện nhiều về phương pháp quan sát và ghi chép. Không ai thắc mắc liệu có thể chịu đựng nổi sự cô đơn của công việc trên thực địa hay không, hay việc họ sẽ đương đầu với nguy hiểm ra sao. Chắc chắn bà đã gặp nhiều khó khăn trong chuyến đi này. Tuy nhiên, nếu những vấn đề về học thuật cũng như sức khỏe trong môi trường khác biệt bà có thể trao đổi qua thư từ với Franz Boas và Ruth Benedict thì rõ ràng vấn đề tâm lý là phức tạp và khó giải quyết hơn nhiều. Bà kết thúc chuyến diền dã đầu tiên của mình trên con tàu đi từ Úc đến Châu Âu để gặp Luther (lúc này đang ở châu Âu trong chuyến du lịch vòng quanh thế giới của ông). Trên đường đi bà đã gặp một nhà tâm lý học trẻ tuổi người New Zealand, Reo Fortune. Là hai sinh viên trẻ tuổi hiếm hoi trên con tàu SS Chitral, họ nhanh chóng làm quen và dành thời gian trao đổi về khoa học và công việc học thuật của mỗi người. Khi tàu đến Châu Âu thì họ đã phải lòng nhau.[21]
Trong chuyến tham quan châu Âu cùng Luther sau đó, Margaret nhận thấy mối quan tâm, quan niệm về cuộc sống cũng như trải nghiệm của bà và Luther khác nhau nhiều. Khi bắt tay viết Coming of Age in Samoa và nhớ lại quãng thời gian ở thực địa, bà càng cảm thấy do dự về cuộc hôn nhân hiện tại. Cùng lúc đó, Reo đang chuẩn bị một chuyến thực địa đi New Guinea. Margaret cũng muốn làm nghiên cứu tiếp theo của bà ở đó. Bà chia tay Luther, và kết hôn với Reo Fortune vào tháng 10 năm 1928. Họ đến Manus, Reo nghiên cứu về tôn giáo người Manus còn Mead nghiên cứu về giáo dục trẻ em trên đảo. Chuyến đi này làm Mead hài lòng hơn chuyến đi ban đầu, vì bà luôn có thể thảo luận ngay tại chỗ những ý kiến của bà tại thực địa với chồng. Reo cũng hỗ trợ bà rất nhiều trong việc thu thập dữ liệu hình ảnh nhờ vào khả năng chụp ảnh của ông.[22]
Tuy nhiên, khi về lại New York, mối quan hệ của họ lại gặp vấn đề. Thành công từ tác phẩm Coming of Age in Samoa khiến bà nổi tiếng, trong khi Reo vẫn chưa có tên tuổi trong giới học thuật. Ông thường nói đùa rằng nên giới thiệu ông là “Mr. Margaret Mead”. Dù chia sẻ với nhau nhiều suy nghĩ, vấn đề về học thuật, nhưng họ lại không thuận hòa trong quan điểm sống, đặc biệt là kì vọng về giới. Reo – một người New Zealand – vẫn còn duy trì những tư tưởng thời nữ hoàng Victoria về cách ứng xử của đàn ông và đàn bà. Trong khi đó Mead là một người phụ nữ sôi nổi và mạnh mẽ, luôn khẳng định cái tôi cá nhân và đề cao quyền bình đẳng giới. Bà thường phàn nàn rằng ông không giúp đỡ bà trong việc nội trợ, và bà cảm thấy mình phải hi sinh quá nhiều thời gian cho gia đình chỉ bởi vì bà là phụ nữ. Sự rạn nứt còn đến bởi tình hình suy thoái kinh tế năm 1929 đã tác động đến Mỹ, khiến họ bị cắt giảm các nguồn tài trợ cần thiết cho cuộc sống và hoạt động nghiên cứu.[23]
Chuyến điền dã tiếp theo và cũng là chuyến cuối cùng hai người đi chung với nhau là đến miền núi Arapesh, sông Mundugumor và hồ Tchambili ở New Guinea để nghiên cứu ba xã hội nguyên thủy và khá cô lập tương ứng với từng vùng. Reo và Margaret gặp khó khăn lớn trong việc tiếp xúc với cộng đồng Arapesh và Mundugumor bởi vì tính hung dữ của người bản địa nơi đây. Mead đã cố gắng rất nhiều nhưng không nhận được điều gì, công việc chậm chạp khiến họ chán ngán. Được biết trong vùng có một nhà nhân học người Anh, Gregory Bateson, cũng đang nghiên cứu một nhóm dân cư khác, hai người đã tìm đến ông với hi vọng mở ra một hướng nghiên cứu mới ở một địa bàn khác. Bateson đã giới thiệu họ với cư dân vùng hồ Tchambuli – một xã hội có nhịp sống nhẹ nhàng vui  tươi và đặc biệt là mẫu hệ lẫn mẫu quyền khiến Margaret rất hào hứng. Reo, Mead và Grerory thường xuyên trao đổi với nhau, và Mead nhanh chóng nhận thấy bà dần quay về phía Grerory nhiều hơn. Sau khi cả ba rời khỏi New Guinea vào năm 1933,mỗ người đi mỗi ngã. Reo quay về New Zealand, Grerory đến Anh và Mead trở lại Mỹ. Cuộc hôn nhân thứ hai của bà chính thức chấm dứt vào năm 1935.
Tháng 3 năm 1936, Margaret Mead kết hôn với Greorory Bateson tại Singapore, trên đường hai người đi thực địa tại Bali. Đó là một chuyến điền dã đem lại nhiều tư liệu nhất từ trước đến nay (của bà) bởi văn hóa phong phú của người Bali. Các lưu giữ hình ảnh và âm thanh cũng được cải thiện. Grerory cũng là một nhà nhân học nhiều kinh nghiệm thực địa nên hai người đã hỗ trợ nhau rất nhiều. Họ đã cùng nhau quay 4 cuốn phim, mỗi cuốn dài 20 về các mặt trong đời sống ở Bali[24]. Kết quả trực tiếp của chuyến đi là tác phẩm Balinese Character (Tính cách người Bali) được xuất bản năm 1942.
Khoảng thời gian chiến tranh thế giới nổ ra cũng là một giai đoạn đặc biệt đánh dấu sự chuyển đổi trong cuộc đời Margaret Mead: bà mang thai. Trước đó một thời gian dài bà tin vào việc mình không có khả năng sinh con theo lời bác sĩ, và đã nhiều lần bị xảy thai. Bà sinh ra một người con gái – Catherin Bateson – trong tuổi 38, độ tuổi mà việc sinh nở đã trở nên khó khăn. Tuy nhiên điều đó đối với bà không quan trọng bằng sự vui mừng là giờ đây bà có thể trải nghiệm thực sự cảm giác làm mẹ và bắt tay vào quá trình giáo dục một đứa trẻ. Bà coi việc sinh đẻ như một biến cố thú vị từ góc độ một nhà khoa học chuyên nghiệp lẫn cá nhân. Bà đi xa hơn trong việc nhờ một người bạn quay phim lại quá trình sinh của mình, thậm chí “làm chậm lại” đề người này có thời gian lắp bóng đèn chóa.[25]
Cuộc sống gia đình khi có một đứa trẻ ra đời trở nên eo hẹp hơn. Bà tiếp tục công tác tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên – công việc bà được giới thiệu bởi Franz Boas và đã phụ trách suốt từ năm 1926. Khi Mỹ tham chiến năm 1941, có nhiều công việc cho những người chuyên nghiên cứu các thay đổi trong đời sống người dân. Cả Mead và Grerory đều được mời làm tư vấn cho những người đang gặp vấn đề về phân ly và những kinh nghiệm sống mới. Đó là thời gian Mead tạm xa rời các hoạt động điền dã (do chiến tranh và kinh tế).
Tháng 6 năm 1953, lúc này bà đã li dị với Beteson, Catherin được 13 tuổi. Margaret đã có thể trở lại công tác thực địa yêu thích của bà. Từ thời gian này cho đến năm 1975, bà tiếp tục thực hiện những chuyến diền dã tại Manus và Bali, xen kẽ với những buổi thuyết trình ở Anh, Úc và ngay tại Mỹ. Ngoài công tác ở Viện Bảo tàng Lịch sử tự nhiên, bà còn được bổ nhiệm là giáo sư phụ giảng về nhân chủng học tại đại học Columbia vào năm 1954. Năm 1972,  quyển hồi kí “Blackberry winter – My early years” của bà được xuất bản, hé lộ những chi tiết cá nhân trong cuộc đời bà – một nhà nhân học gây nhiều tranh cãi, từ học thuật cho đến đời sống riêng. Tựa đề quyển sách dựa trên sự so sánh những tháng năm khi bà còn trẻ giống như hình ảnh hoa mâm xôi ngậm những giọt sương giá vào mùa đông và sẽ bừng nở tràn đầy sức sống vào mùa xuân.[26]
Trong từng giai đoạn, bà giữ nhiều trọng trách của các tổ chức có uy tín : Hiệp hội Nhân chủng học Mỹ, Viện Khoa học Thông tin Công cộng, Hiệp hội Nhân học ứng dụng, Hội vì sự tiến bộ khoa học Hoa Kì. [27]
Bà mất ngày 15 tháng 11 năm 1987 tại New York, ở tuổi 76. Điếu văn dành cho bà được đọc tại Quốc hội Mỹ, trong đó Thượng nghị sĩ New York Jocob K. Javits phát biểu “Margaret Mead vẫn còn đó. Bà vẫn cùng với chúng ta trong các nghiên cứu xuất sắc về hành vi con người.  Bà vẫn sống với những quyển sách hấp dẫn dành cho công chúng của bà, với ý tưởng về lòng nhiệt huyết và say mê công việc của một nhà khoa học luôn tìm tòi học hỏi kiến thức và sự thật”[28]
2.3.5. Kết luận
Cuộc tranh luận Mead – Freeman đến nay vẫn chưa thật sự ngã ngũ, nhưng những đóng góp của Margaret Mead là rất lớn đối với trường phái Văn hóa và nhân cách, đối với việc khẳng định vai trò đặc biệt của văn hóa trong sự hình thành và phát triển tâm lý, nhân cách của con người.[29] Cũng như Boas và Ruth, bà có công lớn trong việc đưa nhân học đến gần hơn với công chúng. Càng nhiều những người hiểu biết về những kiến thức nhân học, tác động tích cực của ngành khoa học này trong công cuộc khám phá con người và thấu hiểu lẫn nhau giữa nhân loại ngày một nâng cao.



[3] Margaret Mead, Blackberry Winter : My Early Years, Kodansha America Publisher; 2nd edition, 1995, pp58.
[4] Lois W. Banner(2005), Interwined Lives: Margaret Mead and Ruth Benedict, and their circle, Vintage Publisher, pp 70.
[5] Jane Howard(1989), Margaret Mead: A life, Ballantine Books Publisher, pp 21.
[6] Michael Pollard(2002), Margaret Mead thuộc bộ sách Những nhà khoa học làm thay đổi thế giới, nxb Văn hóa Thông tin, tr 45.
[8] Lois W. Banner(2004), Interwined Lives: Margaret Mead and Ruth Benedict, and their circle, Vintage Publisher, pp 86.
[9] Sheeleigh Luther Cressman (1897-1994),  người chồng đầu tiên của Margaret Mead,  là một linh mục Anh giáo, tốt nghiệp cử nhân ngành xã hội học. Ông sau này rời khỏi chức linh mục và trở thành một nhà khảo cổ học nổi tiếng của Tây Bắc Thái Bình Dương của Mỹ. Cressman và Mead ly dị vào năm 1928.
[11]  Indians (Anh Điêng) là tên gọi để chỉ các cư dân bản địa sống tại Châu Mỹ trước khi người châu Âu đến. Khi đoàn thám hiểm của Chistopher Columbus đến đây vào thế kỉ XV, họ tưởng nhầm vùng đất này là Ấn Độ nên đã gọi những thổ dân ở đây là Idian (người Ấn Độ), sau này, để phân biệt với người Ấn Độ, người ta gọi cư dân bản địa ở châu Mỹ là Indians.
[13] Michael Pollard(2002), Margaret Mead thuộc bộ sách Những nhà khoa học làm thay đổi thế giới, nxb Văn hóa Thông tin, tr27
[14] Michael Pollard(2002), Margaret Mead thuộc bộ sách Những nhà khoa học làm thay đổi thế giới, nxb Văn hóa Thông tin, tr 25
[15] Michael Pollard(2002), Margaret Mead thuộc bộ sách Những nhà khoa học làm thay đổi thế giới, nxb Văn hóa Thông tin, tr 30
[16] John Derek Freeman (1916 – 2001), nhà nhân học người Úc sinh tại New Zealand, được biết đến nhiều nhất về sự phê bình của ông với công trình “Coming of Age in Samoa” của Margaret Mead. Quyển “Margaret Mead và Samoa” của ông được phát hành tại Mỹ năm 1983, tạo nên một sự khuấy động mạnh mẽ trong dư luận.
[18] Thật ra khó gọi đây là một cuộc tranh luận vì nó không bao gồm những ý kiến phản biện của cả hai bên. Derek hoàn thành bản thảo của ông vào năm 1978 và đã gửi trước bản thảo cho Margaret để bà cho ý kiến. Tuy nhiên bà không hồi âm và chỉ vài tháng sau đó, bà mất (ở tuổi 76).
[19] Đây là quan điểm riêng của người viết bài này. Rất có thể những dẫn chứng cho cáo buộc về tính trung thực của nghiên cứu của Mead về người Samoa mà Derek đã thu thập khác hoàn toàn so với dữ liệu mà Mead thu thập được chỉ bởi vì hai người cùng nghiên cứu ở một địa bàn nhưng không cùng thời điểm. (Những nghiên cứu thực địa của Mead và Derek diễn ra cách nhau 39 năm (1925 – 1964) )
[21] Michael Pollard(2002), Margaret Mead thuộc bộ sách Những nhà khoa học làm thay đổi thế giới, nxb Văn hóa Thông tin, tr 21.
[22] Michael Pollard(2002), Margaret Mead thuộc bộ sách Những nhà khoa học làm thay đổi thế giới, nxb Văn hóa Thông tin, tr 31
[23] Michael Pollard(2002), Margaret Mead thuộc bộ sách Những nhà khoa học làm thay đổi thế giới, nxb Văn hóa Thông tin, tr 34
[24] Michael Pollard(2002), Margaret Mead thuộc bộ sách Những nhà khoa học làm thay đổi thế giới, nxb Văn hóa Thông tin, tr 47
[25] Michael Pollard(2002), Margaret Mead thuộc bộ sách Những nhà khoa học làm thay đổi thế giới, nxb Văn hóa Thông tin, tr 49
[26] Margaret Mead, Blackberry Winter : My Early Years, Kodansha America Publisher; 2nd edition, 1995.