Từ phát triển đến trao quyền: Thay đổi chính sách của chính phủ Indonesia đối với các tộc người bản địa

Christopher R. Duncan

Giống như mặt trời, sự phát triển là điều không thể tránh được
Heryanto 1988

Phát triển diễn ra như một điều tất yếu (pembangunan) đã từng là chủ đề quan trọng của đất nước Inđônêxia từ những năm 1970. Bất cứ một cá nhân hay nhóm nào thể hiện sự do dự khi tham gia vào quá trình nhận thức mang tầm quốc gia đều bị coi là dấu hiệu của tình trạng chậm tiến. Một bộ phận của xã hội Inđônêxia, và vẫn tiếp tục, được chọn ra là tâm điểm của sự chú ý đặc biệt: những nhóm này được xếp vào loại “Các cộng đồng theo tập quán pháp sống cách biệt về địa lý” (komunitas adat terpencil, hoặc KAT) Trước đây các nhóm này được coi là “cộng đồng biệt lập” (masyarakat terasing) và chịu sự quản lý của Chương trình vì Sự Phát triển Thịnh vượng Xã hội của các Cộng đồng Biệt lập (Pembinaan Kesejahteraan Sosial Masyarakat Terasing) thuộc Bộ Các Vấn đề Xã hội. Hiện tại có sự giám sát của Ban Điều hành đối với Chương trình vì Sự Thịnh vượng của các Cộng đồng theo tập quán pháp Sống Tách biệt về Địa lý (Direktorat Kesejahteraan Komunitas Adat Terpencil). . Chính phủ dùng cụm từ này để chỉ những người chăn nuôi gia súc trong rừng, những người trồng trọt du canh du cư và những nhóm khác được coi là lạc hậu so với thời đại. Họ chính là một trong những trở ngại lớn nhất đối với việc phát triển công dân của chính phủ và nếu như các nhà hoạch định Inđônêxia có khả năng thay đổi những cái dường như không phát triển này, “những người sống du cư” trở thành những người sống định cư, những nông dân văn minh, chính phủ tin tưởng rằng mọi thử thách đều có thể vượt qua.
Trong những năm 1990 khái niệm “thổ dân biệt lập” (suku terasing) hoặc “cộng đồng biệt lập” (masyarakat teasing) đã thu hút được sự quan tâm của các nhà nhân học, họ đã bắt đầu tìm kiếm Chương trình vì Sự Phát triển Xã hội của các Cộng đồng biệt lập tại Bộ Xã hội (Pembinaan Kesejahteraan Sosial Masyarakat Terasing, hoặc PKSMT) và tìm hiểu xem Chương trình đó đã có tác động như thế nào tới các cộng đồng địa phương (Koentjjaraningrat 1993; Suparlan 1995; Persoon 1998; Li 1999). Năm 1999 chương trình đã được đổi tên thành Chương trình vì Sự Phát triển Xã hội Thịnh vượng của các cộng đồng luật tục sống cách biệt về địa lý (Pembinaan Kesejateraan Sosial Komunitas Adat Terpencil, hoặc PKAT) (Depsos 1999). Chương trình này hướng tới hơn một triệu con người mà Chính phủ thấy cần phải có sự hỗ trợ đặc biệt để phát triển. Cho dù số lượng dân mà chính phủ đặt mục tiêu không nhiều nhưng chương trình đã nêu bật được vấn đề là làm thế nào mà chính phủ có thể hiểu và quản lý được các nhóm tộc người thiểu số bản địa.
Các tài liệu tuyên truyền của PKAT đã đưa ra khái niệm sát nghĩa nhất của tuyên bố chung đó là chính phủ Inđônêxia đã đưa ra quan điểm về tộc người thiểu số bản địa. Các mối quan tâm chủ yếu của chính phủ được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng là cuộc sống du cư, “thuyết vạn vật hữu linh”, và canh tác nương rẫy, những vấn đề khác cũng được chính phủ quan tâm như mối đe doạ an ninh. Hơn nữa, đường lối chỉ đạo của chương trình cũng đề cập tới các dịch vụ xã hội do các cơ quan thuộc các bộ của chính phủ Inđônêxia đảm nhận nhằm cố gắng phát triển đất nước. Kể từ khi Hiến pháp Inđônêxia cấm những hành vi phân biệt đối xử (hoặc coi thường) đối với bất kỳ nhóm tộc người riêng biệt nào, những cách gọi tên từ trước đến nay vẫn được coi là hợp pháp, chẳng hạn như Orange Asli” hoặc “dân bản địa” đều không được chấp nhận Chính phủ nhận thấy sự hiện diện của các cộng đồng adat trên một loạt các ấn phẩm hợp pháp ở cả cấp khu vực và quốc gia; tuy nhiên, họ không được hưởng bất cứ quyền ưu tiên đặc biệt nào (xem Sirait và cộng sự 2000: 11-29).. Tuy nhiên, các lãnh đạo của PKAT đưa ra minh chứng rằng một số nhóm dân tộc thiểu số xứng đáng có địa vị đặc biệt, với hàm ý tiêu cực khi gắn họ với cách xếp loại như vậy.
Mối quan tâm và những định kiến được nêu lên trong các tài liệu chính thống của chính phủ đã tạo ra một cuộc tranh luận sâu rộng vì tương lai của các tộc người thiểu số bản địa nằm ngoài phạm vi của PKAT. Cho dù các nhóm tộc người khác có thể không bị coi là “Những người quét rừng” (perambah hutan) hoặc “Những người canh tác nương rẫy” (peladang berpindah) và họ phải chịu sự điều hành của Bộ Lâm nghiệp hoặc Cục di trú, nhưng trở ngại là nếu như họ đưa ra những chất vấn về vấn đề phát triển tương tự như những vấn đề đã được trích dẫn trong chương trình PKAT. Ở một mức độ nào đó, các quan niệm tìm thấy trong các văn bản chính thức của tổ chức PKAT đã trở thành quan niệm được chuẩn hoá (chứ không mang tính hình thức) về các dân tộc thiểu số bản địa của các quan chức Inđônêxia. Kết quả là, chương trình đã mang lại hiệu quả vượt quá nhiệm vụ của chương trình, và việc kiểm tra chương trình một cách cẩn thận (kể cả trước đây và hiện nay) đã đưa ra một cái nhìn sâu sắc về sự thiếu quan tâm liên tục đối với cộng đồng các dân tộc thiểu số bản địa ở quần đảo.

Lịch sử Chương trình
Những cố gắng ban đầu nhằm phát triển các tộc người thiểu số bản địa xuất phát từ những nỗ lực của thực dân Hà Lan nhằm động viên họ sống định cư trên bờ biển. Các nhà cầm quyền người Hà Lan rất chú trọng tới việc kiểm soát số dân nội địa này, đồng thời khai thác nhân công và thu lợi nhuận các khoản thuế. Các dự án tái định cư này thường được thực hiện dưới sự giám sát của lực lượng quân sự hoặc qua việc sử dụng các nhà truyền giáo ở những vùng không có người theo đạo Hồi. Sau độc lập, trước tiên chính phủ Inđônêxia thực hiện một nhiệm vụ trong năm 1951 bằng cách làm việc với Kubu trên hòn đảo của Sumatra qua Ban Điều hành chương trình vì Sự Phát triển Các cộng đồng thổ dân sống biệt lập (Directorat Pembangunan Masyarakat Suku-suku Terasing) (DBMT 1992a: 18). Vào thời kỳ này, các dự án tập trung chủ yếu vào việc thu thập các tư liệu dân tộc học về nhóm dân số mục tiêu hơn là việc đi vào các chương trình phát triển cụ thể. Dần dần Ban Điều hành đổi lại tên của chương trình là Chương trình vì Sự Phát triển Thịnh vượng Xã hội của các Cộng đồng Sống Biệt lập (Pembinaan Kesejahteraan Sosial Masyarakat Terasing), cái tên đó được giữ mãi cho đến năm 1999. Mục tiêu chính của chương trình là hợp nhất những nhóm tộc người này thành một quốc gia – dân tộc lớn hơn, giống như việc biến họ thành công dân Inđônêxia. Những nỗ lực được thực hiện trong suốt chế độ mang tên “Trật tự Mới” của Soeharto, tập trung chủ yếu vào việc nâng cao trình độ “văn minh” và “phát triển” của những nhóm người bị coi là “lạc hậu” (terbelakang) để sáp nhập họ vào một dòng chảy chủ đạo Đôi khi một số nét riêng biệt của văn hoá địa phương, cái được coi là sự cản trở đối với sự phát triển, ở cấp độ địa phương đã bị cấm đoán. Ví dụ: Kuipers (1990: 1 n.9) đã cho biết ở Sumba một loại tiệc truyền thống của người Weyewa đã bị quan chức địa phương cấm thực hiện, vì họ coi đó là biển hiện của “lãng phí và lạc hậu”. Với những ví dụ tương tự, xem Dove 1988; Hawkins 1989; và Keane (1997:3-4).. Trong suốt quá trình thực hiện, chính phủ hầu như can thiệp vào mọi mặt đời sống của họ: thay đổi mô hình cư trú kỹ thuật sản xuất nông nghiệp, tôn giáo và thậm chí thay đổi cả thói quen ăn uống của họ. Sự sung túc và sức khoẻ của các nhóm mục tiêu này không chỉ là vấn đề sống còn của chính phủ, mà họ còn quan tâm tới các vấn đề khác như sự tồn tại tiếp tục của các cộng đồng tộc người thiểu số bản địa.
Trong nhiều năm qua, những việc làm đúng đắn chủ yếu của chương trình là ngăn chặn con người khỏi nạn “phá huỷ môi trường” qua các kỹ thuật canh tác nương rẫy “giản đơn”. Tuy nhiên, những mối quan tâm về môi trường đối với việc canh tác nương rẫy chỉ nên coi như là sự việc nêu ra để đánh lạc hướng câu chuyện, bởi vì chính phủ Inđônêxia thường xuyên cho mở rừng để khai thác gỗ, khoáng sản hoặc di dân ngay sau khi các cộng đồng sống trong rừng đã được tái định cư (ví dụ., Duncan 2002b) Di cư là chương trình của chính phủ nhằm tìm kiếm nơi định cư cho những người dân nghèo và không có đất từ những đảo đông dân cư như Java và Bali tới các vùng dân cư thưa thớt hơn, chẳng hạn như Sumatra và Kalimantan.. An ninh quốc gia cũng là vấn đề cần quan tâm. Sự có mặt của các nhóm tộc người chưa được hợp nhất vào quốc gia chẳng hạn như nhóm Paqua và Kalimantan, đã tạo ra mối đe dọa đối với sự an toàn của quốc gia dân tộc bởi vì họ đã bị sử dụng như những đường dẫn để truyền bá tư tưởng của nước ngoài (đặc biệt là chủ nghĩa cộng sản) vào Inđônêxia (Rachamadi 1990: 2). Ngoài ra, những nhóm tộc người đã phát triển hoặc không phát triển hiện đang sống ở khu vực biên giới được xem như đã hạ thấp hình ảnh của người Inđônêxia ở nước ngoài do cuộc sống “đơn giản” của họ (DBMT 1988b: 10).
Sự xuất hiện ngày càng nhiều các tổ chức phi Chính phủ (NGOs) tại Inđônêxia trong những năm 1980 đã dẫn tới việc lợi ích mới của một số nhóm người có nguy cơ bị tước đoạt (Eldridge 1995; Riker 1998). Điểm trọng tâm của chủ nghĩa tích cực này liên quan tới quyền của các dân tộc thiểu số bản địa, và các tổ chức phi chính phủ (NGOs) đã được cơ cấu lại ở cấp địa phương và cấp quốc gia để xem xét những mối quan tâm này. Các tổ chức phi chính phủ mới được thành lập cũng đưa ra hệ thống các thuật ngữ mới cùng với cách đánh giá của riêng họ. Sự sụp đổ của chính quyền Soeharto và sự kết thúc của chế độ Trật tự Mới trong năm 1998 càng thúc đẩy những lời kêu gọi cải cách. Tại cuộc hội thảo về “Người bản địa” tổ chức tại Jakarta năm 1999, các đại diện từ khắp quần đảo đều không nhất trí với cái tên “cộng đồng biệt lập” và yêu cầu thuật ngữ đó cần phải được loại bỏ khỏi các văn bản của chính phủ (Suara Pembaruan Daily 1999); DTE 1999a). Khi ông Giám đốc của Ban Điều hành vì Sự Phát triển của Các Cộng đồng Tộc người biệt lập (Dirrektorat Bina Masyarakat Terasing, hoặc viết tắt là DBMT) phát biểu tại hội nghị và nói về những nỗ lực của Ban Điều hành các đại biểu tham dự hội nghị cảm thấy “rất bức xúc” khi ông dùng những thuật ngữ như “bộ tộc xa lạ” hoặc “dân sống biệt lập”, đến mức họ đe doạ sẽ tiến hành một cuộc tuần hành xuống đường (DTE 1999e). Để đáp lại lời kêu gọi cần được tôn trọng này, Ban Điều hành vì Sự Phát triển các Cộng Đồng Tộc người biệt lập đã thay đổi tên gọi vào năm 1999. Người ta không còn nhắc tới thuật ngữ “phát triển xã hội biệt lập” mà thay vào đó là cụm từ “trao quyền hành hợp pháp cho các cộng đồng theo tập quán pháp cách biệt về địa lý” (pemberdayaan komunitas adat terpencil) (Depsos 1999).
Thuật ngữ của chương trình
Thảo luận các mục tiêu chính và các bước thực hiện chương trình đặc biệt này của chính phủ thì cần phải bắt đầu bằng việc nắm vững các thuật ngữ của chương trình. Tên của chương trình: Pembinaan Kesejahteraan Sosial Komunitas Adat Terpencil bao gồm một số từ khoá, nó cung cấp thêm cho chúng ta những hiểu biết sâu sắc về chương trình. Trong các tài liệu chính thức, pembinaan được dịch là “phát triển”; tuy vậy, thuật ngữ này mang ý nghĩa rộng hơn, thuật ngữ “phát triển” được trình bày ở đây đề cập nhiều tới công tác quản lý và hướng dẫn mọi người, trái với các dự án chỉ mang tính vật chất (ví dụ: như cái cầu hay đập nước) thường liên quan tới thuật ngữ pembangunan. Theo ghi chép của Michael van Langenberg (1986: 13), thuật ngữ này nhấn mạnh tới việc “huy động toàn xã hội phục vụ cho nhu cầu quốc gia”. Gắn liền với thuật ngữ pembinaan là hệ thống quyền lực và trí tuệ; một người hoặc một tổ chức làm công tác “phát triển” đều biết cái gì là tốt nhất cho một người hoặc nhiều người đã “phát triển”. Có nghĩa là sử dụng phương pháp tiếp cận từ trên xuống dưới đối với các dự án phát triển trái với phương pháp tham dự.
Một thuật ngữ mới được chấp nhận komunitas adat terpencil (KAT) thay thế cho từ masyarakat terasing. Thuật ngữ này, thường được sử dụng hàng ngày, thường xuyên được dịch là “xã hội biệt lập” hoặc “nhóm biệt lập”. Một xuất bản phẩm của chính phủ lại đưa ra một thuật ngữ là “thổ dân”, hoặc “nhóm dân tộc thiểu số sống biệt lập”, hoặc “cộng đồng biệt lập” (DBMT 1992a: 9). Phần đầu của thuật ngữ masyarakat có nghĩa là “xã hội/cộng đồng” hoặc “cư dân/mọi người” (Echols và Shadily 1977: 364). Từ asing (gốc của từ terasing) có thể định nghĩa là (1.Xa lạ, không bình thường; 2. Không bình thường; nguy hiểm/ vô duyên; 3. Nước ngoài; 4. Cô độc, biệt lập; 5. Cái khác, khác nhau” (TPKPPB 1997: 61). Do đó các thuật ngữ trước đây đề cập tới sự khác biệt và cô lập về văn hoá xã hội của một số nhóm người so với các nhóm chính trong xã hội Inđônêxia (Persoon 1998: 287). Hơn nữa, có ý kiến cho rằng họ là những người “không bình thường” hàm ý tính không thể tránh được khi họ hoà nhập vào xã hội Cũng sử dụng giống từ“chưa” (belum) được ghi chú trong chính sách tôn giáo của Inđônêxia, nếu những người dân chưa phải là hội viên của một trong sáu tôn giáo chính thống được chính phủ công nhận, thì bị xếp loại là “những người chưa có tôn giáo” (orang belum beragama), hàm ý tính chắc chắn xảy ra của sự chuyển đổi của họ. (Atkinson 1983).. Khái niệm về cộng đồng biệt lập, hay thổ dân biệt lập, cũng đã xuất hiện ở các bài thuyết trình những vấn đề chung ở Inđônêxia cả về vấn đề dân tộc và phát triển, và cụm từ đó thông thường dùng để biểu thị các nhóm người mà ở nơi nào đó họ được gọi là “thổ dân”.
Vào năm 1999 từ massyarakat được thay thế bằng từ komunitas adat, được dịch là “cộng đồng luật tục”, (adat là thuật ngữ chung của người dân Inđônêxia khi nói đến phong tục và luật pháp). Thuật ngữ adat không có gì là riêng biệt đối với các nhóm tộc người thiểu số bản địa này; người Java, người Sundan, người Balin cũng đều có thuật ngữ adat riêng của họ. Sự hiện diện của từ này không mang hàm ý chỉ bất cứ sự khác biệt nào với các nhóm xã hội rộng lớn hơn ở Inđônêxia. Tuy nhiên, việc nhắc tới từ “cộng đồng luật tục” nhằm nêu lên bản chất của những nhóm người này, có thể cho rằng họ bị ảnh hưởng bởi những phong tục tập quán và truyền thống địa phương hơn là văn hoá và pháp luật quốc gia Inđônêxia.
Sự thay đổi đáng nói hơn là sự thay đổi đột ngột từ terasing tới terpencil. Mặc dù cả hai từ đều mang ý nghĩa là “sự khác biệt”. Từ thứ hai đề cập nhiều tới sự khác biệt nhiều hơn dựa trên yếu tố địa lý, trái với tình trạng cô lập từ các nhóm xã hội chủ yếu có nghĩa là terasing. Terpencil được dịch là “cách biệt, xa xôi” từ một từ gốc là pencil, từ này nhấn mạnh vào yếu tố địa lý: “tách biệt với cái gì đó, xa (so với cái gì đó)” (TPKPPB 1997: 746). Việc sử dụng thuật ngữ terpencil hướng sự chú ý tới sự cách biệt về địa lý, xoá bỏ những vết nhơ còn sót lại sau phát triển, đổ lỗi cho những rào cản về địa lý làm lu mờ những nỗ lực trước đây. Sự thay đổi được nhận thấy trong định nghĩa mới về cộng đồng mục tiêu của chương trình: “Nhóm người sống trong sự thống nhất về văn hoá xã hội nhưng họ mang đặc tính địa phương và họ sống rải rác, nghèo nàn, cho dù, họ cũng được tiếp cận tới các mạng lưới kinh tế, xã hội tốt hoặc thậm chí là mạng lưới chính trị và dịch vụ” (DBMT 1999: I). Ban quản lý chương trình đã loại bỏ tất cả những khái niệm dính líu tới “sự cô lập về văn hoá xã hội” và “tình trạng lạc hậu” có trong những định nghĩa trước đây Tài liệu trước đây của Bộ định nghĩa masyarakat terasing là “các nhóm xã hội sống định cư hoặc di cư ở những vùng xa xôi, cách biệt về địa lý, cách biệt cả về văn hoá xã hội và vẫn còn rất lạc hậu khi đem so sánh với xã hội Inđônêxia nói chung” (Depsos 1994). .
Những thay đổi thuật ngữ ngày càng nhiều là điều dễ nhận thấy trong các tài liệu của chương trình. Trong giai đoạn Trật tự Mới, các quan chức chính phủ luôn nói đến vấn đề “phát triển” của các nhóm cộng đồng này và luôn “nâng đỡ” để nâng cao trình độ văn minh của họ. Các mục tiêu của chương trình là “giải phóng các cộng đồng này khỏi điều kiện sống tách biệt và lạc hậu, cả về thể chất lẫn văn hoá xã hội”, để họ có thể “có được mức sống cao hơn về cả vật chất lẫn tinh thần” (DBMT 1994a: 4). Sự thay đổi này phản ánh mô hình giả định trong cách xử thế của chương trình từ phương pháp tiếp cận từ trên xuống tới phương pháp tiếp cận tham dự nhiều hơn (một tài liệu dùng cụm từ “phương pháp tiếp cận từ dưới lên trên” (DBMT n.d). Cho dù có những thay đổi trong thuật ngữ và cách diễn đạt, thì vẫn cần phải lưu ý rằng phần còn lại của chương trình vẫn còn giống nhau đáng kể, và một quan chức ở Jakarta nhận xét với tôi rằng hai chương trình về cơ bản là giống nhau: chỉ có cái tên là thay đổi.

Ai phù hợp với định nghĩa ?
Inđônêxia chưa có một chính sách chính thức liên quan tới quyền của các tộc người thiểu số bản địa. Từ khi giành được độc lập, chính phủ Inđônêxia đã hoạt động rất mẫn cán nhằm tránh xa những vấn đề về dân tộc và những đặc điểm riêng biệt tộc người của các dân tộc khác trong khu vực. Người ta tranh cãi sôi nổi rằng khái niệm “bản địa” là không thích hợp với quốc gia, bởi vì hầu hết dân Inđônêxia (ngoại trừ người Trung Hoa) là dân bản địa và do vậy có quyền được hưởng như nhau Năm 1998, Chỉ thị Tổng thống ban hành việc cấm sử dụng các thuật ngữ pribumi (người bản xứ) và non-pribumi (không phải người bản xứ) trong các quy định và chương trình của chính phủ (Chỉ thị Tổng thống số 26/1998 về việc ngừng sử dụng thuật ngữ Bản địa và Không Bản địa trong mọi văn bản, trong việc thực thi chính sách, kế hoạch chương trình và các chương trình hoạt động và Chính sách của Chính phủ) (Redaksi Sinar Grafika 1999: 117-18). . Theo cách đó chính phủ Inđônêxia chưa có cơ quan chính thức để giải quyết các vấn đề của dân bản địa như ở Philipin hoặc Việt Nam (xem Eder và Mckenna trong tập này; McElwee trong tập này). Người ta cũng không biết chắc nhóm dân tộc thiểu số nào được hưởng quyền ưu đãi đặc biệt dựa trên tính “bản địa” của họ. Những đòi hỏi về quyền ưu đãi đặc biệt đã không được chấp nhận như những trường hợp của SARA (từ cấu tạo bằng những chữ đầu của một nhóm từ được dùng để biểu thị nội dung, chẳng hạn như thổ dân [suku], tôn giáo [agama], chủng tộc [ras], và mối quan hệ giữa các nhóm [antar golongan] cái mà chính phủ tin tưởng rằng có thể phá hoại sự thống nhất quốc gia). Dưới thời Soeharto, bàn luận về những vấn đề này đều bị cấm. Kết quả là phân loại như KAT được coi là sự khẳng định về địa vị kinh tế xã hội của một nhóm và mức độ liên hệ chặt chẽ trong một quốc gia – dân tộc. Không giống với nhóm Orange Asli của người Mã Lai (xem Endocott và Dentan trong tập này), việc phân loại của nhóm KAT không gắn với bất kỳ địa vị pháp lý đặc biệt nào hoặc hạn chế quyền tự do cơ bản nào của công dân. Về phương diện thủ tục và pháp lý, mọi thành viên thuộc nhóm này đều được hưởng quyền và những ưu đãi đặc biệt như các công dân Inđônêxia khác. Vậy liệu thực tế này có diễn ra hay không thì lại là vấn đề khác.
Ở một đất nước có sự đa dạng về tộc người như Inđônêxia, để có thể nói chính xác là những người nào có đủ điều kiện tham gia chương trình PKAT cũng còn rất mơ hồ. Ban dự án đã đưa ra một loạt những nét đặc trưng tộc người để minh họa cho KAT:
1. Họ thấp bé, bảo thủ và thuần nhất
2. Các thể chế xã hội dựa trên cơ sở dòng họ
3. Nhìn chung họ là những người sống tách biệt về mặt địa lý và rất khó tiếp cận.
4. Nguồn sống chủ yếu của họ là nền kinh tế tự cung tự cấp
5. Sử dụng công cụ lao động và kỹ thuật giản đơn
6. Chủ yếu sống phụ thuộc vào môi trường và các nguồn tài nguyên thiên nhiên ở địa phương.
7. Họ gặp khó khăn trong việc tiếp cận tới các dịch vụ, chính trị, kinh tế và xã hội Các đặc điểm trên còn bao gồm cả đặc điểm không có tôn giáo, thiếu quần áo, thiếu lương thực v.v…(Xem DBMT 1994b: 2-3). Những đặc điểm này đã không còn thấy trong danh mục gần đây nêu lên các đặc tính của KAT (Depsos 1999), nhưng những đặc tính này lại xuất hiện trong một số chi tiết khi thực thi chương trình. . (DBMT 1999: 1-2)
Chính phủ chia KAT thành 3 loại nhỏ dựa trên sinh kế và mô hình định cư của họ:
1. Dân du cư (kelana): Các cộng đồng theo tập quán pháp sống riêng biệt, chỗ ở của họ luôn luôn thay đổi theo các cách sinh kế. Cuộc sống và lối sống của họ rất đơn giản và in đậm dấu ấn của sự lạc hậu.
2. Những người sống cố định một phần (menetap sementara): Cộng đồng cư dân sống theo luật tục riêng biệt, họ sống cố định trong một thời gian nhất định và lối sống của họ vẫn là du cư do vậy cuộc sống và công việc của họ vẫn rất đơn giản.
3. Những người sống cố định (menetap): Cộng đồng cư dân sống theo luật tục riêng biệt, cách sống và nơi ở của họ đã được tạo dựng một cách đơn giản, cho tới nay họ luôn có một cuộc sống đơn giản (DBMT n.d)
Những đặc điểm nêu trên, cũng như định nghĩa của Ban dự án phát triển đưa ra trước đây, có thể áp dụng cho phần lớn các nhóm tộc người trên quần đảo, và một công bố của Ban dự án cho rằng có hơn 365 tộc người và nhóm địa phương đã được xác định (DBMT 1999: I). Những nhóm này bao gồm Mentawai, Sakai và Orang Rimba của Samatra, nhóm Baduy của Paqua. Ban dự án ước tính số dân sống trong 18 tỉnh khoảng 1,1 triệu, con số đó vẫn duy trì ổn định trong những năm 1990. Cứ cho là, hơn 200.000 người hoặc 18% số dân trong tổng số của nhóm KAT đã được thu hút vào dự án từ năm 1969 (DBMT 1999: I. Sau giai đoạn 5 năm, các nhóm đã từng là một bộ phận của chương trình được chuyển giao lại cho chính quyền khu vực để phát triển mở rộng và không còn dưới sự kiểm soát của chương trình. Các cộng đồng được “chuyển giao” mà không chú ý đến sự thành công của chương trình và thực trạng của những người được hưởng lợi. . Nhưng vẫn còn một số lượng lớn các nhóm tộc người khác, không được đề cập trong dự án này, cũng được coi là các dân tộc thiểu số bản địa. Một số chính sách được áp dụng cho những nhóm tộc người này cũng sẽ được đề cập dưới đây.

Những nguyên tắc chỉ đạo và mục tiêu của chương trình
Như đã đề cập ở trên, mặc dù tên của chương trình đã thay đổi và các văn bản chính sách của chương trình cũng đã được diễn đạt theo cách mới, nhưng hoạt động của chương trình PKAT thì thay đổi rất ít. Hoạt động được tăng cường là tập trung vào các khái niệm “định cư xã hội”, nơi hội tụ của nhiều cư dân các nhóm mục tiêu và họ đã được dạy cách sống để trở thành công dân Inđônêxia kiểu mẫu dưới sự hướng dẫn của các cán bộ dự án, họ được tập huấn từ việc từ bỏ tín ngưỡng hoặc tôn giáo của họ để theo một tín ngưỡng hoặc tôn giáo khác, cho đến các hoạt động sản xuất nông nghiệp. Họ được định cư và sống trong hàng loạt các nhà giống hệt nhau, những nhà này được sắp xếp thẳng hàng (và thông thường những nhà này có thiết kế đơn điệu) và được cấp 2 ha đất canh tác. Ban quản lý dự án luôn kiểm tra hoạt động của các khu định cư này và cả toàn bộ hệ thống mà họ lập nên, hoạt động này được coi là một phần quan trọng trong công tác quản lý toàn diện vì sự phát triển của các cộng đồng tộc người thiểu số bản địa Các ấn phẩm cũ của các chương trình PKSMT đề cập tới các khu định cư này như là môi trường “lý tưởng” để phát triển (DBMT 1992b: 1). Việc tập hợp các cộng đồng trong một địa bàn duy nhất được cho là sẽ tách họ ra khỏi “tình trạng lạc hậu” trước đây và thúc đẩy họ trên con đường trở thành công dân Inđônêxia hiện đại (DBMT 1992b: 2).. Các hoạt động định cư xã hội này thực hiện ba mục tiêu nhằm hợp nhất KAT như: giúp họ “phù hợp với môi trường sinh thái”, hỗ trợ việc hoà nhập xã hội, khích lệ và bảo đảm cho họ có thể hoà nhập với các dân tộc chính của Inđônêxia (DBMT 1999: 4-5). Họ tham gia dự án dưới hai hình thức: “định cư xã hội tại chỗ” (tipe permukiman sosial di tempat asal, hoặc gọi là TPA) và “định cư xã hội tại nơi ở mới” (tipe permukiman sosial di tempat baru, hoặc gọi là TPB), cái tên mà các hãng thông tấn báo chí nói đến là phát triển “bên trong” và “bên ngoài” tương ứng. Việc chú trọng tới nhóm dân tái định cư ở những nơi dễ tiếp cận hơn đã sẵn có trong các vị trí trước đây của dự án cũng đã có sự thay đổi tế nhị, có tính tới công tác dự phòng nhằm xây dựng những toà nhà đơn giản cho những nhóm dân định cư ở những nơi mới đến. Tuy nhiên, cũng cần phải lưu ý rằng khả năng thực hiện chương trình định cư xã hội tại chỗ (TPA) phụ thuộc vào nơi định cư hiện tại, không phải là những nơi định cư “không được phép”. Những địa điểm không được phép này bao gồm cả những vùng có khả năng xảy ra dịch bệnh, khu văn hoá, hoặc (điều quan trọng nhất trong khảo sát dự án này) rừng bảo tồn và các địa điểm của các dự án phát triển khác (DBMT 1999: 5). Việc xếp thứ tự sự phát triển của các tộc người thiểu số bản địa sau lâm nghiệp và các hình thức phát triển các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác (chẳng hạn như di cư, khai thác mỏ, hoặc mở rộng đồn điền) được coi là một minh chứng cho việc tiếp tục ưu tiên của chương trình ở mức độ thấp và những mục tiêu hợp lý trong việc tái định cư các tộc người thiểu số bản địa của chính phủ.
Chính xác nhóm dân tộc hay địa phương nào được chọn để tham gia vào dự án này sẽ được quyết định tại các cuộc họp phát triển vùng giữa lãnh đạo các vùng và các đại diện cấp Bộ cùng phối hợp hoạt động với Bộ Phát triển vùng. Các quan chức đã đưa ra nhóm dân tộc cụ thể trong phạm vi quyền hạn của họ cần được phát triển hoặc cần phải di chuyển khỏi một địa điểm nào đó để dành đất cho một dự án khác. Như Tania Li (1999: 305-6) đã chỉ ra rằng trong thời kỳ Trật tự Mới, một lý do để lựa chọn các dân tộc đó là do nhu cầu của các nhà quản lý vùng nhằm đảm bảo rằng các dự án phát triển sẽ đến được với số lượng đáng kể các cử tri của họ, và cái đó sẽ đảm bảo phiếu bầu cho đảng cầm quyền. Một lần một nhóm dân tộc đã được lựa chọn, chương trình được thực hiện theo 3 giai đoạn: chuẩn bị, lập kế hoạch và thực hiện. Giai đoạn đầu bao gồm việc tìm hiểu và nghiên cứu nhóm mục tiêu, đưa ra những luận chứng về tính khả thi và lựa chọn những cá nhân tham gia vào chương trình. Các cán bộ nghiên cứu của Bộ Xã hội cùng với các nhà khoa học từ các trường đại học các tỉnh tiến hành nghiên cứu những luận chứng về tính khả thi ban đầu. Những thông tin thu thập được qua các hoạt động này đã định hướng cho những hoạt động tiếp theo của giai đoạn lập kế hoạch. Một sự cố đã xảy ra với hệ thống này, theo lời của một tư vấn dự án trước đây nói với tôi rằng ngân sách của dự án sẽ căn cứ trên những luận chứng về tính khả thi ban đầu, cái đó sẽ dẫn đến một kế hoạch dự án tập hợp xây dựng ở Jakarta. Chỉ một lần kế hoạch này đã được thực hiện và ngân sách cũng đã được phân bổ, việc sửa đổi kế hoạch nhằm đáp ứng nhu cầu thực tế của địa phương là việc rất khó.
Giai đoạn thực hiện kế hoạch kéo dài 5 năm, với hàng loạt các hoạt động và mục tiêu của mỗi năm. Mỗi lần khu định cư vừa được xây dựng (hoặc bố trí lại), nhiệm vụ của cán bộ thực địa là hướng dẫn người dân tiến hành công việc theo sự chỉ đạo của chương trình. Những người dân được chọn vào sống ở khu định cư mới đã được cấp phát rất nhiều thứ; kể cả nhà ở (chính xác là 30 m2), bếp và đồ dùng làm vườn, lương thực trong 3 tháng và quần áo Người ta hy vọng rằng bằng cách tặng quần áo, mọi người sẽ thích mặc và có thể mua thêm. Do đó, mặc dù tuyên bố về KAT, những người không có quần áo mặc, đã bị loại bỏ ra khỏi danh mục đặc điểm của các cộng đồng tách biệt, nhưng khái niệm về người hoang dã trần truồng hoặc bán trần truồng vẫn còn ngự trị trong ý thức hệ của chương trình. v.v.v. Hơn nữa, khu định cư cũng có xây một nơi để thờ cúng, một hội trường lớn, và cả trường học, sân bóng. Trong thời gian 5 năm, khu định cư sẽ có một “ban lãnh đạo”, ban đó sẽ giới thiệu cho những người dân ở khu định cư về những nguyên tắc mới, những nguyên tắc mới đó sau này sẽ được áp dụng trong cuộc sống hàng ngày, và cộng thêm nhận thức của họ và những cảm nhận về trách nhiệm xã hội” (DBMT 1999: 8-9). Các mục tiêu của kế hoạch 5 năm gắn chặt với các mục tiêu lớn hơn của chính phủ như: định cư hoá những người dân sống du cư, chấm dứt việc canh tác nương rẫy, cung ứng giáo dục và chăm sóc sức khoẻ, đổi đạo cho những người dân theo những tôn giáo đã được chính thức công nhận.
Ổn định và tái định cư vẫn còn là một trong những mối quan tâm chủ yếu của chương trình PKAT. Nó xuất phát từ nhu cầu bền bỉ của chính phủ Inđônêxia mong muốn các cộng đồng được sống trong khu định cư quy củ, ở đó họ có thể dễ dàng tiếp cận tới các dịch vụ của chính phủ, chẳng hạn như dịch vụ chăm sóc sức khoẻ và giáo dục. Gắn chặt với mối quan tâm nhiều hơn về mô hình định cư thay đổi là việc không mong muốn của chính phủ về canh tác nương rẫy. Lao động nông nghiệp của KAT là hoạt động cơ bản của chương trình ngay từ khi bắt đầu dự án. Nhiều người biết rằng chính phủ Inđônêxia không đồng ý với nông nghiệp du canh (chẳng hạn như., Dove 1983) và các nhà quản lý chương trình hy vọng sẽ biến các dân số mục tiêu thành những nông dân ổn định. Những lựa chọn được đưa ra là trồng lúa nước hoặc trồng hoa màu thu lợi. Cùng với những hình thức này, người nông dân còn được cấp đất đã phát quang, giống, vật nuôi, công cụ sản xuất và được tham gia các khoá đào tạo nông nghiệp. Cho dù đầu vào đã được cung cấp rất đáng kể nhưng các điều kiện cho sản xuất nông nghiệp ở địa phương hoặc những mong muốn của người dân cũng chưa được đáp ứng. Đối với KAT, mục tiêu chủ yếu của chương trình là đáp ứng nhu cầu sinh kế của người nông dân qua việc có được đồng ruộng và nhà ở cố định.
Tôn giáo cũng là một tiêu điểm quan trọng trong các nỗ lực của chính phủ, mặc dù việc không có tôn giáo sẽ không bị nhắc tới như là một đặc điểm của KAT, mối quan tâm này cũng thường xuyên được nhắc đến trong các chính sách thực hiện. Điều này là cần thiết bởi vì tôn giáo được coi là thiêng liêng trong triết lý sống mang tính nghi lễ ở Pancasila, nơi mà nguyên tắc sống cơ bản đầu tiên của một người Inđônêxia chân chính là lòng tin duy nhất ở Đức Chúa trời (Ketuhanan Yang Maha Esa) Pancasila là triết lý sống mang tính nghi lễ dựa trên 5 nguyên tắc có quan hệ chặt chẽ với nhau: thờ một đấng tối cao là Chúa trời; chủ nghĩa nhân đạo văn minh và công bằng; chủ nghĩa dân tộc được thể hiện trong sự thống nhất của Inđônêxia; chủ quyền của nhân dân được thực hiện một cách thận trọng và qua những người đại diện của dân hoặc nền dân chủ tư vấn; và sự công bằng xã hội cho tất cả mọi người dân Inđônêxia. . Chính sách tôn giáo của chính phủ, từ khi độc lập đến nay, quy định rằng mọi công dân Inđônêxia chỉ được theo một trong 6 tôn giáo chính thống: đạo Hồi, đạo Thiên chúa, đạo Tin lành, đạo Hin đu, đạo Phật và đạo Khổng (gần đây thêm). Tất cả các hệ thống tín ngưỡng khác thì bị loại bỏ ra khỏi “tín ngưỡng” hoặc bị coi là “mê tín”, và những ai theo những tín ngưỡng này đều bị coi là “người không có tôn giáo”. Tâm điểm của Trật tự Mới là chính sách này, như là một phần trong nỗi ám ảnh chống cộng sản của chính sách, cho ra rìa những tôn giáo không chính thống và khích lệ (không bắt buộc) các nhóm cư dân chuyển đổi đạo. Một số nhóm tộc người, chẳng hạn như người Toraja từ đảo Sulawesi và người Ngaju của tỉnh Kalimantan có thể tránh những cuộc chuyển đổi đạo này bằng cách có tín ngưỡng địa phương riêng, được chính thức xếp hạng như Ấn Độ giáo và do vậy đã được luật pháp bảo vệ (ví dụ., Volkman 1990; Schiller 1997), nhưng đối với những ai không thể hoặc không tự nguyện tìm được cho mình một tôn giáo, được coi là một trong những tôn giáo chính thống còn lại, thì phải chịu sự phân biệt đối xử và (mặc dù không mong muốn) buộc phải chấp nhận một tôn giáo nào đó.
Một phần trong chương trình của KAT còn có “sự lãnh đạo tôn giáo” có nghĩa là giới thiệu tín ngưỡng và những giá trị của tôn giáo cho các cộng đồng luật tục cách biệt về địa lý (KAT) qua những nhà truyền đạo chuyên nghiệp sống tại khu định cư (DBMT 1999: 9). Những nhóm tộc người này cũng có người lãnh đạo, hướng dẫn cách khai thác sự giúp đỡ này do vậy họ có thể “biết được tầm quan trọng của tôn giáo trong cuộc sống hàng ngày” (DBMT 1999: 10). Chính phủ hy vọng rằng sau 5 năm tất cả các cộng đồng luật tục cách biệt về địa lý (KAT) sẽ “đi theo một trong những tôn giáo đã được chính phủ công nhận”. Ngoài ra, chính sách tôn giáo này đã khích lệ được những nỗ lực của các nhà truyền giáo từ các nhóm Thiên chúa giáo và Hồi giáo (chẳng hạn., xem Duncan 1998). Chính phủ nhận thấy rằng không có đủ nguồn tài chính cũng như những viên chức có tâm huyết để thực hiện những nhiệm vụ mang tính quốc tế và do vậy chính phủ trông chờ vào các tổ chức như New Tribe Mission, một tổ chức Tin lành thuộc phái Phúc Âm, thực hiện nhiệm vụ này thay họ.
Một khía cạnh đáng hoan nghênh nữa của PKAT và các chương trình khác của chính phủ là công tác giáo dục cho học sinh phổ thông. Khi có các nhóm tộc người đã định cư tại một địa điểm có thể tiếp cận được, thì chính phủ sẽ xây trường học, nhà ở cho giáo viên và thường xuyên cung cấp sách giáo khoa và đồng phục cho học sinh. Chương trình giảng dạy bao gồm cả việc dạy quốc ngữ, tiếng Bahasa Inđônêxia, cũng như lịch sử của dân tộc và triết lý sống Pancasila. Gắn liền với chương trình giáo dục này là sự ghi nhớ những giá trị và những lý tưởng đã được chính phủ Inđônêxia chấp nhận (Fanany và Efendi 2000). Một ngày nào đó trong tuần sẽ được dành cho giáo dục tôn giáo. Ngoài ra, việc nhập học của trẻ đến tuổi đi học đã tạo thêm cơ hội buộc bố mẹ các em ở cùng một nơi, hy vọng rằng quá trình ổn định sẽ được đẩy nhanh.
Khi ở trường học sinh được dạy về đất nước Inđônêxia, còn bố mẹ các em cũng được các cán bộ thực địa ở các khu định cư dạy về đất nước, cố gắng làm cho họ thấm nhuần ý thức về chủ nghĩa dân tộc Các hoạt động còn bao gồm cả việc dạy họ quốc ngữ, hát thánh ca, giới thiệu về Pancasila và lịch sử Inđônêxia. Chương trình cũng cố gắng truyền đạt ý thức về trách nhiệm xã hội trong khu vực an ninh quốc gia (DBMT 1999: 23). Một phần chương trình này xuất phát từ vị trí địa lý của nhiều cộng đồng KAT sống ở khu vực biên giới của Kalimantan, Papua và Riau. Một tài liệu của chính phủ ghi chép rằng an ninh là một trong những mục tiêu cuối cùng của chương trình: “Các địa điểm định cư ở khu vực biên giới sẽ là cái đai an toàn chống lại những kẻ lấn chiếm biên giới” (DBMT 1999: 29).

Những thành công và thất bại của Chương trình
Mặc dù các kế hoạch rất phức tạp và trải nghiệm qua nhiều năm, mức độ thành công của chương trình cũng rất hạn chế nếu đánh giá theo các tiêu chí của chương trình. Rất nhiều các nhóm mục tiêu, một số nhóm có số lượng dân rất ít, vẫn còn là nhóm trọng điểm từ lúc khởi đầu chương trình. Hầu hết mọi chương trình kiểm tra đều bình luận về sự thất bại hầu như toàn diện về phát triển dân số định hướng mà người ta đang cố tìm cho được để giúp đỡ. Chính phủ cung cấp số liệu thống kê về số lượng hộ gia đình tham gia chương trình, ngay cả những con số này cũng ít được dùng đến bởi vì họ được xoay vòng theo chu kỳ 5 năm của chương trình, bất chấp những phát triển của họ. Một khía cạnh khách quan không định hướng trước của chương trình này là các nhóm cộng đồng khác cũng được hưởng lợi từ chương trình này; nếu như nhóm dân số định hướng rời khỏi khu vực tái định cư, thì những ngôi nhà này sẽ là nơi ở cho các nhóm khác, và như một số tác giả đã vạch ra (Aragon 1999: 303-4; Li 1999), thông thường những người khác nhiều hơn là những thành viên của các dân tộc thiểu số bản địa chuyển tới ở tại những làng tái định cư tại địa điểm đầu tiên.
Một vấn đề khác không được tính đến trong các thống kê của chương trình là nạn tham nhũng ở cấp địa phương, nạn tham nhũng đó đã bòn rút một số lượng lớn nguồn tài chính và tài nguyên của chương trình. Một quan chức của Bộ thừa nhận rằng một số nhà quản lý ở một vài khu vực được làm việc tại nguồn quỹ của PKAT (sau này là PKSMT), họ đã lấy tiền và các của cải vật chất khác cho mình và cho những người ủng hộ họ. Vả lại, đã có lần một khu định cư mới được xây dựng, nhà và đất được giao lại cho các cá nhân, nhưng những người đó rõ ràng không phải là thành viên của nhóm mục tiêu. Một cán bộ tư vấn trước đây của dự án kể lại chi tiết những trường hợp mà nhà và đất được cấp cho các gia đình đã từng là quan chức khu vực, một vài người trong số đó hiện đang sống ở thủ đô hoặc thậm chí ở Malaixia. Rất hiếm đất nông nghiệp loại tốt được cấp cho những khu định cư này; đúng ra là họ thường được định cư ở những vùng đất xấu hơn, bởi vì không còn đất khác nữa hoặc còn do một vài lý do bất chính khác nữa. Ví dụ như: ở tỉnh Central Sulawesi một nhóm người định cư ở vùng đầm lầy, họ có ý định trồng dừa tại đó, nhưng dự án đã thất bại nặng nề. Ngay từ ban đầu vùng đất này đã được cấp cho dự án thì lại về tay một quan chức trong vùng và anh ta đã biến nó thành đồn điền trồng dừa có năng suất cao của riêng anh ta.
Mặc dù đã có dấu hiệu của sự lạm dụng chương trình đã trợ giúp được các tộc người thiểu số với những thực tiễn về nông nghiệp và văn hoá truyền thống của họ, họ có rất ít quyền hoặc nguồn lực để kiểm soát được tình hình về đất đai. Hiệu quả của các dự án PKAT đối với các nhóm khác nhau ở Inđônêxia có sự khác biệt theo từng nơi. Roy Ellen (1994: 135) viết rằng sau này chương trình PKSMT đã hỗ trợ thực sự cho người Nuaulu, những người dân sống trong rừng trên hòn đảo Seram, rõ ràng là đã tác động đến quyết định của chính phủ về việc công nhận Nuaulu là những chủ nhân duy nhất của phần đất rộng lớn hơn ở Central Seram”. Ngược lại, việc phân loại rừng Tobelo ở đảo Halmahera là biệt lập đã khiến cho chính phủ hiểu rõ nội tình của đảo là sự trống rỗng và mở ngỏ để khai thác. Nhìn chung, với nhãn hiệu là biệt lập, hoặc bây giờ là KAT, họ không hoạt động vì lợi ích của dân địa phương và thông thường mang lại nỗi lo lắng, những cố gắng vụng về hoặc mối đe dọa của tái định cư (ví dụ., Tsing 1993). Với cái tên này, thực ra mà nói người dân đã từ chối ở đây và vùng đất và vùng lãnh thổ nơi họ cư ngụ thường được thấy rằng hoặc vắng vẻ hoặc nguy hiểm và vùng đất hoang dã cần được chế ngự qua phát triển. Vết nhơ gắn liền với danh hiệu, gắn kết với những nỗ lực thường xuyên để mở mang vùng đất mới, nó thường có những tác động mạnh mẽ đối với các cộng đồng địa phương. Những mối đe dọa nghiêm trọng nhất là tốc độ lan tràn của phát triển (chẳng hạn như kế hoạch đồn điền hoặc di cư) và việc tìm kiếm những người con ưu tú của Inđônêxia, nhiều người trong số họ còn đang nắm quyền lực và có vị thế của mình bất chấp những thay đổi trong chính phủ năm 1998.
Các tộc người thiểu số bản địa và chính sách lâm nghiệp của Inđônêxia
Những nhóm người xa lạ được đề cập đến ở đây, họ là ai vậy? Có thể họ không phải là cư dân bản địa mà đến từ các hòn đảo khác nhau. Chúng tôi không bị cô lập. Quá dễ dàng cho các công ty khai thác gỗ, nhà chế biến dầu cọ và các công ty khai thác mỏ đưa bàn tay đến với chúng tôi và vắt cạn các nguồn lợi của chúng tôi.
– Thành viên tham gia Hội thảo về người bản địa của khu vực đảo tổ chức tại Jakarta vào năm 1999

Mặc dù chương trình PKAT chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến 1,1 triệu dân Inđônêxia, nhưng các chính sách về rừng và sử dụng nguồn rừng của chính phủ Inđônêxia thì lại ảnh hưởng tới một lượng dân số lớn Xem Zerner 1992: 4 tranh luận về những ước tính khác nhau liên quan đến dân số của các cộng đồng sống trong rừng mà số lượng đó dao động từ 1,1 triệu đến 65 triệu.. Với khoảng 75% diện tích của Inđônêxia được quy hoạch cho phát triển rừng, và 90% trong số đó là các đảo ở phía ngoài xa, thì tất cả mọi chính sách về người bản địa thiểu số của chính phủ Inđônêxia đều quy về các chính sách lâm nghiệp của Inđônêxia Xem Harwell và Lynch 2002 bài phỏng vấn sâu về chính sách lâm nghiệp của Inđônêxia cũng như các chính sách về nguồn tài nguyên thiên nhiên khác. . Trong một vài thập kỷ qua, những vùng đất này được coi là cỗ máy tạo nên sự tăng trưởng về mặt kinh tế cho đất nước, công cụ để tạo ra ngoai tệ mạnh và là cái van an toàn để điều chỉnh áp lực của sự gia tăng dân số do quá trình di dân (Gunawan và các cộng sự 1999: 49-50) Trong năm 1996, thu nhập bắt nguồn từ nền công nghiệp liên quan tới rừng ước tính là 10% GDP của Inđônêxia. . Có một thực tế là những người thiểu số bản địa đều sống ở rừng nhưng khi chính phủ quy hoạch và triển khai các kế hoạch phát triển lâm nghiệp thì lại ít chú ý đến những tộc người thiểu số bản địa.
Mặc dù Luật lâm nghiệp cơ sở 1967 đã thừa nhận sự tồn tại của sở hữu địa phương đối với rừng và Chính sách lâm nghiệp Trật tự Mới (New Order forestry policy) với cái lõi là Luật Lâm nghiệp 1967, khẳng định rằng luật tục của cộng đồng không thể cản trở quá trình triển khai các kế hoạch phát triển của chính phủ. (Gunawan và các cộng sự. 1999: 56) Nhiều tác giả đã chỉ ra rằng những mục đích ban đầu và văn bản luật không có ý định là tước các quyền của cộng đồng địa phương (Zerner 1992: 83-85); Gunawan và cộng sự 1999: 53-56). Tuy nhiên, trong thực tế luật thường được sử dụng để tước đi quyền sở hữu đất đai của mọi người. . Các qui tắc và luật bổ sung đã được thông qua vào những năm 1970 và 1980 có liên quan đến việc tiếp cận rừng và khai thác các nguồn lợi từ rừng sớm muộn gì cũng sẽ làm xói mòn các quyền của cộng đồng địa phương và đe doạ các hoạt động sinh kế và sinh tồn của họ Ví dụ: Chỉ thị Chính phủ số 21 năm 1970 liên quan tới Điều kiện Khai thác Gỗ và Quyền khai thác các sản phẩm rừng đã cấm người dân địa phương không được khai thác các nguồn tài nguyên rừng trong các khu rừng do Nhà nước quản lý, các khu bảo tồn và khu khai thác gỗ. Xem LATIN (1998: 10).. Vào những năm 1980, nhà nước quy hoạch 75% đất đai của nhà nước thành rừng quốc gia và việc làm được coi là “một vụ tước đoạt lớn nhất trong lịch sử” (Fay và Sirait 2001: 126). Các điều luật này được đưa ra để tránh phải đối đầu trực tiếp với cộng đồng dân địa phương và nhượng lại quyền khai thác gỗ cho các công ty tư nhân mà chủ yếu là những công ty có quan hệ mật thiết với gia đình Soeharto.
Từ sau sự sụp đổ của Soeharto, các nhóm xã hội khác nhau của Inđônêxia đã kêu gọi sự đổi mới về Luật Lâm nghiệp. Rất nhiều người đã hy vọng rằng những điều khoản trong Luật Lâm nghiệp cơ sở 1999 (Basic Forestry Law 1999) sẽ có thể giải quyết được phần nào những vấn đề đã đề cập ở trên. Tuy nhiên, những điều luật mới mặc dù đã giúp nhận diện được sự hiện hữu của cộng đồng người dân sống phụ thuộc vào rừng và đất rừng địa phương nhưng tất cả những cái đó vẫn bị xếp sau nhu cầu của quốc gia. Trên thực tế, đạo luật mới gộp luôn đất cha ông của cộng đồng vào với đất đai của nhà nước, do đó, nhà nước mới đích thực là người nắm quyền quản lý (DTE 1999c). Những điều luật mới khi được đưa ra đã gặp phải sự phê bình gay gắt của các NGO (DTE 1999d), và chính Cựu Bộ trưởng Bộ Lâm nghiệp đã từng nói rằng: “không có phần nào trong dự thảo luật này thừa nhận hay bảo vệ quyền của các tộc người địa phương sống trong các khu rừng” (trích trong bài viết của Barber và Schweithelm 2000: 41).
Nhìn chung, quá trình xây dựng và triển khai các chính sách lâm nghiệp chủ yếu dựa trên những đánh giá tiêu cực về các hình thức sử dụng nguồn tài nguyên của các tộc người bản địa (Gunawan và các cộng sự 1999: 37). Do đó, việc di chuyển của người dân địa phương ở những khu vực có rừng nhằm mục đích khai thác gỗ chính là yếu tố quan trọng của những chính sách này. Bộ Lâm nghiệp hiện nay đang cố gắng thực hiện định cư cho họ với các hình thức luân canh (peladang berpindah). Và chính phủ thực hiện định cư cho các nhóm người này thông qua chương trình phát triển rừng phục vụ mục đích thương mại cho cộng đồng (HBD). Chương trình này nhằm mục đích thúc đẩy sự phát triển của các cộng đồng sống trên khu vực rừng đó và kế đến là phát triển các công ty khai thác gỗ tư nhân. Thực chất của việc làm này là chính phủ giao lại việc quản lý các cộng đồng ở vùng sâu vùng xa này cho các công ty khai thác gỗ tư nhân. Như một phần cam kết mang tính pháp lý giữa chính phủ và các công ty này đã quy định, các công ty phải chịu trách nhiệm triển khai các kế hoạch phát triển và phải tìm ra cách thức tiến hành hiệu quả nhất. Nếu những công ty tư nhân thất bại trong việc phát triển cộng đồng, cũng đồng nghĩa là họ sẽ mất quyền khai thác gỗ trên phạm vi rừng đó. Tuy nhiên, trên thực tế, những cú phạt đó hiếm khi được thực hiện.
Ở một số vùng, chương trình HBD đã thay thế chương trình KAT Trong khi Chương trình PKAT chỉ làm việc với các nhóm được chính phủ gọi là KAT thì Chương trình HBD lại làm việc với tất cả những ai được coi là bị ảnh hưởng bởi các hoạt động của công ty khai thác gỗ.. Mục tiêu chính của việc làm này là: (1) làm tăng “phúc lợi” của những cộng đồng sống ở trong và xung quanh những khu vực rừng mà các công ty khai thác gỗ tư nhân đang tiến hành khai thác; (2) đảm bảo sự bền vững cho các nguồn rừng (Planning Bureau 1993:15). Chương trình phát triển chú trọng tới 4 loại hình sau: (1) kinh tế nông thôn; (2) định cư nông thôn; (3) sức khoẻ và (4) giáo dục (ibid.:17). Phát triển kinh tế có mục tiêu là cải thiện phương thức canh tác của nhóm dân số trọng điểm nhằm mục đích tăng sản lượng và đảm bảo tính bền vững. Sở dĩ phải lựa chọn các nhóm dân cư cho dự án phát triển này là vì: nhìn chung, những cư dân sống ở trong và xung quanh các khu vực rừng đều sống ở những khu vực biệt lập, khó tiếp cận và họ sống rải rác, đất đai kém màu mỡ và đang ngày càng bị suy thoái. Họ có trình độ dân trí thấp. Họ không dễ gì mà chấp nhận những thay đổi và cuộc sống của họ phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên. Nhu cầu của họ rất đơn giản do đó những hoạt động sinh kế của họ chỉ để đảm bảo những nhu cầu tối thiểu nhất của cuộc sống chứ không thể mang tính hàng hoá được. Nói chung, cuộc sống của những người này chủ yếu dựa vào kinh tế nương rẫy và chặt phá rừng, nhưng họ lại chưa sẵn sàng cho việc tiếp thu cách thức sản xuất nông nghiệp mới và họ thực hiện các biện pháp mới này rất khó khăn.
Chương trình HBD cũng hướng tới việc thay đổi các hình thức cư trú của những người này và hướng tới việc đặt họ vào “những ngôi làng có tổ chức chặt chẽ”. Vì vậy, mục tiêu chính của chương trình này là muốn định cư cho các nhóm người này và tiến tới định canh cho họ và xoá bỏ các hình thức canh tác nương rẫy và hái lượm mà họ đang tiến hành hiện nay bởi theo chính phủ thì những hoạt động này mang tính huy hoại còn những công ty kinh doanh gỗ thì cho rằng nó không mang tính kinh tế.
Rất nhiều tác giả viết về những ảnh hưởng tiêu cực của các chương trình phát triển này với cộng đồng (WALHI 1992; Zerner 1992; Tjitradjadja 1991; Duncan 1998). Các công ty khai thác gỗ thường không hoàn thành nhiệm vụ của mình. Khi họ triển khai các dự án định canh định cư, họ chỉ làm qua loa: Nhà cho dân định cư được làm bằng loại gỗ xấu, đầu vào cho nông nghiệp thiếu tính bình đẳng và được đem đến cho công đồng không qua sự tư vấn của địa phương và còn nhiều thứ khác nữa. Những điểm nội cộm của các dự án BHD này xuất phát từ những mâu thuẫn giữa việc trao quyền khai thác gỗ với các hình thức sử dụng đất và quyền liên quan đến đất đai của địa phương. Khi quyền khai thác gỗ được trao tặng và các công ty tư nhân bắt đầu nhảy vào, phá huỷ ruộng vườn, nhà cửa của người dân địa phương trong quá trình khai thác gỗ mà không hề bị một hình phạt nào. Mặc dù một số ít người dân địa phương có việc làm nhờ tham gia vào việc khai thác gỗ, những mâu thuẫn xã hội giữa công nhân khai thác gỗ và người dân địa phương vẫn là vẫn đề đáng được quan tâm. Những người công nhân khai thác gỗ tỏ ra thiếu tôn trọng dân địa phương, quấy rối phụ nữ và một hệ quả xấu là nạn mại dâm ngày càng gia tăng.
Bộ Lâm nghiệp cũng chịu trách nhiệm mở rộng việc trồng rừng ở khu vực quần đảo. Bắt đầu vào cuối những năm 1980, một điểm nhấn của sự phát triển theo trật tự mới trong lĩnh vực lâm nghiệp là hình thành các khu trồng cây lấy gỗ. Việc trồng rừng này tạo đầu vào cho ngành sản xuất gỗ dán và mở rộng quy mô của ngành công nghiệp giấy và bột giấy. Cho đến những năm 1980, hơn 2,8 triệu ha rừng đã được trồng (World Bank 1999, trích từ bài viết của Barber và Schweithelm 2000: 32). Tuy nhiên, sự phát triển của việc trồng rừng này lại đưa đến những mối đe doạ khác chứ không chỉ là giải quyết vấn đề khai thác gỗ mà thôi. Trong khi các công ty khai thác gỗ hoạt động, những người dân địa phương vẫn được hưởng lợi từ việc khai thác các sản phẩm tự nhiên ngoài gỗ một cách hợp pháp hay bất hợp pháp như săn bắn động vật, thu hái thảo dược hoặc có thể tái sử dụng những khu đất bị các công ty khai thác gỗ bỏ lại sau khi khai thác xong. Trái lại, chính việc trồng rừng đã làm huỷ hoàn toàn môi trường địa phương bởi vì giờ đây nó đã chuyển thành một nền văn hoá đơn nhất và đất dành cho việc trồng rừng trong một thời gian dài hơn (35 năm cho một chu kỳ xoay vòng) [Lynch và Tabott 1995: 54]). Những cuộc phản đối chiếm đoạt đất đai và đối xử không công bằng của địa phương đều bị trấn áp bằng bạo lực hoặc lạm dụng nhân quyền (Human Rights Watch 2003). Khi ngày càng có nhiều các công ty tư nhân nhảy vào khai thác gỗ và khi sự phát triển của việc trồng rừng ngày càng có quan hệ chặt chẽ với quân đội một cách trực tiếp hay gián tiếp (Human Rights Watch 2003: 14) thì những hoạt động hợp pháp lại càng hiếm khi được thực hiện Theo ghi nhận của Human Right Watch (2003: 14) chính phủ đã cho phép các quan chức quân đội được quyền khai thác gỗ nhằm chiếm được sự ủng hộ và lòng trung thành của họ, cũng như hỗ trợ cho nguồn ngân sách quân sự thiếu hụt. Cũng xem Brown 1999: những con số về sự hiện diện của quân đội trong công nghiệp sản xuất giấy và gỗ..
Nils Buhandt (1998b) đã coi việc trồng rừng như trên là “trung tâm kiểu mẫu của Inđônêxia hiện đại”, ở đó quan niệm về trật tự của chính phủ Inđônêxia (cả trong thế giới tự nhiên và thế giới xã hội) đều phải được đặt trong thực tế. Những khu rừng tự nhiên đa dạng và không theo trật tự nào cả sẽ được thay thế bằng những hàng cây thẳng tắp, ngay ngắn và thuộc một loài nhất định, những công nhân làm việc thì sống ngay gần những khu rừng trồng đó, trong những ngôi nhà vuông vức dành riêng cho công nhân. Những nhà hoạch định chính sách hy vọng rằng những người dân địa phương hiện đang làm kinh tế nương rẫy và hái lượm sẽ tới làm việc trong những khu rừng trồng đó và tiếp thu những giá trị và lối sống của những người công nhân hiện nay đang làm việc cho họ. Từ khi có chương trình trồng rừng được tiến hành, việc canh tác của người dân địa phương trở nên ổn định hơn và đã đảm bảo đời sống cho lực lượng lao động là những người dân địa phương hơn. “Lợi ích xã hội” là một trong những luận điểm mà những người triển khai trồng rừng trên khu vực đảo Halmahera ở phía Đông Inđônêxia đưa ra nhằm bào chữa cho những hoạt động của mình. Chính phủ thì hy vọng rằng việc trồng rừng sẽ đem lại một nguồn thu nhập cho những người dân “ngỗ ngược” sống ở vùng rừng Tobelo và từ đó có thể giúp họ ổn định cuộc sống (Bubandt 1998a: 222). Trên thực tế, kế hoạch “khai hoá văn minh” cho những người dân vùng rừng Tobelo bằng cách biến họ thành lao động trồng rừng, làm đời sống kinh tế của họ kém an toàn hơn là giúp họ mở rộng quy mô trồng cọ và cacao; tuy nhiên, một điều không thể phủ nhận là kế hoạch này đem lại cho những nhà trồng rừng một lực lượng lao động rẻ mạt.
Một nhiệm vụ nữa của Bộ Lâm nghiệp là hình thành và bảo vệ công viên quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên. Nhiệm vụ tốt đẹp này được triển khai với cái giá là những cộng đồng dân cư sống ở rừng bị buộc phải giao nộp đất đai của mình vào một khu đất có cái tên là khu bảo tồn. Vẫn với những nhận xét quen thuộc về nông nghiệp nương rẫy và những hoạt động không bền vững, Bộ Lâm nghiệp cố gắng tiến hành định cư cho những cư dân này ở những khu vực giáp ranh bên ngoài các công viên quốc gia. Nhưng một thực tế là việc những người dân sống ở rừng này họ đã sống trên mảnh đất đó, sử dụng một cách bền vững trong suốt bao năm qua thì lại không được ai để ý đến. Mặc dù chính phủ yêu cầu phải thực hiện tái định cư cho những cư dân này nhưng những quyết định của chính phủ cũng phải đặt trong bối cảnh của hàng thập kỷ khai thác gỗ ồ ạt, quá trình di cư ngày càng tăng cũng như sự phát triển của khai thác mỏ và trồng rừng. Sự phân định phạm vi ranh giới của các công viên quốc gia mới hay các khu bảo tồn được tiến hành sau khi những khu đất bằng phẳng đã bị tận dụng hết do quá trình di cư, rừng bị khai thác tới mức kiệt quệ và các mỏ khoáng sản cũng chẳng còn gì.
Một ví dụ về trường hợp người thiểu số bản địa bị đuổi khỏi khu bảo tồn là người Moronene ở một tỉnh phía Đông Nam Sulawesi. Người Moronene sống ở khu vực bị quy hoạch thành công viên quốc gia Rawa Aopa Watumohai vào năm 1983. Họ đã có một thời gian dài đấu tranh với chính quyền địa phương và chính phủ Inđônêxia để bảo toàn lãnh thổ. Rất nhiều lần họ bị nhân viên của công viên quốc gia và quan chức địa phương ra sức ép họ phải rời khỏi khu vực đó (DTE 2001). Chính phủ Inđônêxia muốn đưa người Moronene vào khu tái định cư dành cho những người du cư có diện tích 7ha nằm ngay cạnh khu đất của Công ty Liên hợp Barito Pacific; như thế có nghĩa là kế hoạch này được triển khai là để mang đến nguồn nhân công rẻ mạt cho công ty này chứ không phải là để bảo tồn công viên quốc gia (Koran Tempo 2002). Còn vô vàn ví dụ khác minh hoạ cho vấn đề trên, kể cả vùng Bắc Lampung, tại nơi đó vào đầu năm 1995 những nhân viên làm ở công viên đó đã sử dụng voi phá huỷ 4.000 héc ta trang trại cà phê và nhà cửa, đẩy 2.400 người ra khỏi Khu vực bảo tồn Tangkit Tebak (Harwell và Lynch 2002: 46 n.18) Năm 2002 Harwell và Lunch đã trích dẫn một số ví dụ khác về loại hình di rời dân bắt buộc này.
Việc di rời tất cả những người dân đang sống ở các khu vực công viên quốc gia đi những nơi khác đã giúp cho chính phủ thu hút được nguồn tài trợ khổng lồ từ các tổ chức quốc tế tài trợ cho ý tưởng bảo tồn các công viên quốc gia Hiệp hội quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên xếp hạng những khu vực cần được bảo vệ theo thứ tự từ 1 đến 7, chủ yếu dựa trên số lần vi phạm khai thác rừng của con người, mà những vi phạm đó có thể chấp nhận được ở khu vực ranh giới công viên. Những công viên được xếp hạng 1 hoặc 2 thì không được phép sử dụng hoặc khai thác bất cứ nguồn tài nguyên nào và những công viên đó sẽ có nhiều khả năng là những công viên nhận được nhiều tài trợ nhất từ các tổ chức bảo tồn quốc tế lớn của các tổ chức NGO.. Một nhà tư vấn NGO tư vấn về vấn đề hình thành khu bảo tồn thiên nhiên ở Halmahera ở Đông Inđônêxia cho rằng không nên đưa những người Tobelo vào bất cứ một chương trình quản lý nào. Chính phủ không muốn người dân sống ở trong các khu vực dự kiến sẽ là khu bảo tồn cũng như không muốn họ sống ở những khu rừng mà sẽ được công bố là phát hiện về “tầm quan trọng của đa dạng sinh học”. Mặc dù các quan chức chính phủ có thể muốn hình thành các khu bảo tồn, công viên quốc gia với mục đích vì môi trường tự nhiên, nhưng họ lại không hề muốn bảo tồn các khu rừng đó như là chốn nương thân của những người sống ở rừng (Duncan 2002b). Tái định cư dưới cái tên của bảo tồn chỉ góp thêm một bao biện “màu xanh” cho những nỗ lực kiểm soát của chính phủ.
Một bước tiến tích cực đối với việc thừa nhận quyền của người địa phương đối với đất rừng và các lâm sản ngoài gỗ là vào năm 1998, khi Bộ Lâm nghiệp đưa ra một hạng mục mới trong đất rừng gọi là “đất có mục đích sử dụng đặc biệt” (Kawasan Dengan Tjuan Istimewa, hay còn gọi là KDTI) (Kusworo 2000: 98-101). KDTI được thiết kế nhằm dành quyền quản lý cho cộng đồng địa phương trong một phạm vi xác định. KDTI đầu tiên được trao cho các cộng đồng người Pesisir Krui ở hạt phía tây Lampung ở miền nam Sumantra, là những người tiến hành hình thức kinh tế nông lâm nghiệp bền vững bằng cách thu nhặt damar. Những người nông dân Pesisir đã trồng darma từ cuối thế kỷ XIX; tuy nhiên, họ không thể đòi được quyền sở hữu hợp pháp với các khu rừng trồng của họ. Vào đầu những năm 1990, các hoạt động khai thác gỗ và trồng cây cọ dầu đã xâm phạm các khu rừng trồng darma của người dân địa phương, thậm chí cây của họ còn bị chặt hạ một cách bí mật vào ban đêm. (Michon và cộng sự. 1999). Cộng đồng Pesisir Krui với sự giúp đỡ của các tổ chức NGO trong nước và quốc tế đã thuyết phục bộ Lâm Nghiệp rằng các hình thức sử dụng nguồn lợi của họ là hoàn toàn bền vững và dưới góc độ xã hội, đó là sự lựa chọn tối ưu cho khu vực mà họ sinh sống. Kết quả là Nghị định 47 của Bộ được ban hành vào năm 1998 và theo đó, công nhận 29.000 ha là thuộc quản lý của công đồng Pesisir Krui (Kurwoso 2000:99). Tuy nhiên, mặc dù hiện nay các cộng đồng này đã có được quyền quản lý đất đai nhưng họ lại không có quyền sở hữu mà quyền sở hữu vẫn nằm trong tay nhà nước (Safitri 1996). Nhưng cũng không thể phủ nhận được rằng chính Nghị định 47/1998 đã tạo nên một bước tiến quan trọng trong việc thừa nhận các hình thức sử dụng nguồn lợi của người dân địa phương và thừa nhận quyền với rừng và các lâm sản của họ.

Di cư
Các chính sách về vấn đề di cư của chính phủ Inđônêxia từ trước đến nay đều gây những tác động tiêu cực đối với các nhóm thiểu số sống ở các đảo xa của Inđônêxia. Chương trình di cư này đã chuyển những người nông dân không có đất và bộ phận dân cư bị bần cùng hóa ở nông thôn và thành thị vốn sống ở những hòn đảo có dân cư đông đúc như của Bali hay Java tới những hòn đảo có dân cư thưa thớt hơn. Do đó mà áp lực dân số của khu vực đảo Bali và Java cũng được giảm bớt và nó cũng tạo nên sự hợp tác nhiều mặt giữa những hòn đảo trước đây tương đối biệt lập với khu vực trung tâm của quần đảo như Bali hay Java. Chính phủ cũng hy vọng rằng những nhóm thiểu số đó sẽ học được tư tưởng cần cù lao động của người nông dân Java để từ đó sẽ có những thay đổi khác. Những vùng đất mà chính phủ quy hoạch cho dân di cư đến ở được coi là vùng đất “trống”, mặc dù từ trước đến nay, đó vẫn là nơi sinh sống của những người thiểu số bản địa. Những người bản địa bị lấy mất đất đai vì mục đích tái định cư cho những nhóm người mới của chính phủ thì hầu như không nhận được bất cứ một sự đền bù thoả đáng cho phần đất mà họ bị mất, mặc dù họ thường xuyên được hứa là sẽ được chuyển đến nơi định cư mới. Trên đảo Halmahera, đã có một số dự án di dân được xây dựng trên khu đất của người Tobelo, là những người không nhận được bất cứ một khoản đền bù nào. Theo khảo sát của Cục di dân năm 1996, những cư dân Tobelo được đề nghị đưa vào diện tái định cư sau khi đã mất đất, nhưng cho đến nay, không một người Tobelo nào có thể chắc chắn về đề nghị đó và cũng không một ai trong số họ muốn chấp nhận lời đề nghị đó.
Trước đây, chương trình PKSMT/PKAT đã từng làm việc với Ban di dân thông qua chương trình di dân cho những cư người địa phương sở tại, và như vậy các nhóm thiểu số cũng được tham gia vào chương trình di dân. Những người được di rời đều là những người sống liền kề với nhau trong một khu vực và khi tham gia các dự án di dân, họ được cấp một diện tích đất như nhau và cùng khai thác các nguồn lợi giống nhau như những người di cư khác (mặc dù thực tế là những dự án di dân này lại được xây dựng trên chính mảnh đất mà họ đang sống). Chính sự hợp tác này đã giúp cho chương trình PKSMT/PKAT khai thác được cơ sở vật chất phục vụ cho đối tượng di cư. Người ta đưa ra một lời biện minh cho chương trình này đó là những nhóm thiểu số bản địa sẽ tiếp thu hệ giá trị mới nhanh hơn khi họ được di rời đến một khu biệt lập (DBMT 1998a: 7). Tuy nhiên, các chương trình di dân này lại gây những ảnh hưởng hoàn toàn không tốt cho một số nhóm người. Theo báo cáo của Ngân hàng thế giới, các dự án di dân trên đảo Sumatra do Ngân hàng tài trợ chủ yếu mang lại những tác động tiêu cực và không thể khắc phục được đối với người Kubu, những người sống ở vùng rừng núi thuộc tỉnh Jambi (World Bank 1994, trích từ bài viết của Barber và Schweithelm 2000: 33). Chính những mối quản ngại về những ảnh hưởng tiêu cực của quá trình di dân đối với các nhóm người thiểu số bản địa đã khiến cho Ngân hàng thế giới quyết định cắt kinh phí tài trợ cho các chương trình này vào những năm 1990 (Zaman 2002).
Những ảnh hưởng lâu dài của quá trình di dân trên khắp quần đảo đã quá rõ ràng. Từ khi Soeharto sụp đổ, khuynh hướng bạo lực ngày càng mạnh mẽ là kết quả của các mâu thuẫn giữa các nhóm dân cư mới tới định cư trên đất của nhóm dân cư bản địa. Bạo lực diễn ra liên tiếp tại các tỉnh miền trung và tây Kalimantan giữa người Dayak là dân địa phương và những người di cư đến từ đảo Madura. Và đây được coi là ví dụ điển hình nhất về di dân liên quan đến bạo lực. Cuộc bạo động gần đây nhất là vào năm 2001, diễn ra ở miền trung Kalimantan và kết quả là hàng trăm người dân di cư bị giết. Chính phủ buộc phải sơ tán hàng chục ngàn người tới Java và Madura Những ví dụ khác xem Adhiati, Sri và Bobsien 2001.. Ngay cả di dân nội tỉnh hay là quá trình di cư của chính những người dân địa phương trong nội bộ tỉnh đó, cũng gây ra không ít xung đột. Trên đảo Halmahera ở phía đông Inđônnêxia, bạo lực giữa người di cư Makian và người bản địa nổ ra vào năm 1999. Những người Makian chuyển tới sống trên đảo này từ năm 1975 khi Viện Nghiên cứu núi lửa cho rằng hòn đảo quê hương của họ sẽ gặp thảm họa do núi lửa phun trào. Và những vùng đất trống mà họ chuyển đến định cư trên đó thực chất là của những người dân bản địa. Những căng thẳng giữa dân mới đến và dân địa phương đã âm ỉ trong suốt 25 năm qua và bùng phát vào năm 1999 (Duncan 2002a). Xung đột bạo lực ngày càng lan rộng và nhấn chìm tỉnh miền Bắc Maluku trong thời kỳ hỗn loạn và kết quả là hàng ngàn người chết cùng với 200.000 người phải di rời đi nơi khác.
Tuy nhiên, phản ứng với quá trình di dân không phải lúc nào cũng tiêu cực như trên. Đôi khi, chính những người bản địa cũng nhận ra những cái mà họ thu được khi tham gia một cách có chiến lược vào các dự án di dân nói trên. Công trình nghiên cứu của Jenifer Leith (2001) về vấn đề di dân và tái định cư ở miền Bắc Halmahera đã chỉ ra rằng người dân mong muốn có được lợi ích từ các kế hoạch phát triển đó. Đi cùng với các dự án di dân thường là cơ sở hạ tầng được trang bị tốt hơn, giá lương thực tại địa phương đó giảm xuống do chính phủ có sự ưu đãi cho dân mới định cư. Dân địa phương cũng có cơ hội để tiếp thu các yếu tố khoa học kỹ thuật mới do những người di cư mang đến. Ở khu vực miền trung Halmahera, người dân địa phương ở một số làng đã bắt đầu sử dụng lao động người Java để làm những cánh đồng trồng lúa nước cho họ. Vì vậy, quá trình di dân cũng mang lại những lợi ích nhất định, mặc dù những lợi ích này không đáng là bao nếu so với những ảnh hưởng tiêu cực mà nó mang lại.

Quản lý làng xã và tự trị khu vực
Trong suốt thời kỳ Soeharto, có vô số điều luật được thông qua nhằm khẳng định quyền của Nhà nước và của cộng đồng, chẳng hạn như Luật Lâm nghiệp cơ sở 1967 và quy tắc khai thác mỏ cơ sở cùng thông qua cùng năm đó. Kết quả là, những người đấu tranh chống lại việc bị tịch thu đất đai, bị coi là những kẻ khích động chống lại mục tiêu phát triển của quốc gia. Các điều luật này tạo điều kiện cho chính phủ và bộ phận chóp bu có liên quan chiếm được đất đai của người bản địa một cách thuận lợi hơn, với giá rẻ hơn và khiến cho những người dân bản địa (và cả những nhóm dân cư bị ngoại vi hóa như những người nông dân ở Java hay Bali) khó có thể giữ được đất. Việc chuyển quyền khai thác gỗ và khoáng sản cũng như việc xác định phạm vi của các điểm di dân và của các khu vực trồng rừng thường được tiến hành không có sự đồng ý của những người dân bản địa đang sinh sống tại “khu vực trống” này. Các quyền và nhu cầu của họ bị chối bỏ hay bị phụ thuộc vào các nhà công nghiệp, nhà khai thác gỗ và những nhóm người khác có liên quan đến vấn đề quyền.
Một điều luật khác được thông qua dưới thời Soeharto là chuẩn hóa mã số hành chính với mục đích làm xói mòn truyền thống của các tộc người bản địa. Điều luật số 5 năm 1979 về đơn vị hành chính làng, theo đó, đơn vị hành chính làng được chuẩn hóa trên toàn quần đảo theo mô hình của Java. Bộ máy lãnh đạo theo luật tục giờ đây bị ngoài lề hoặc bị thay thế bằng những cá nhân quản lý cộng đồng theo luật pháp của nhà nước Một tác động phụ không biết trước được của đạo luật này đã làm cho nhiều người theo đạo Hồi và đạo Thiên chúa giáo ở nhiều cộng đồng do các quy định luật tục (adat) của họ đã bị mai một đi. Những hậu qủa của việc phát triển như vậy có thể thấy được qua sự bùng nổ bạo lực ở Ambon vào năm 1999 (Bartels 2000). . Harwell và Lynch (2002: 27) gọi điều luật này là “đòn tấn công làm tê liệt nhất từ trước tới nay đối với bộ máy quản lý làng xã truyền thống ở Inđônêxia” Rất nhiều tác giả đã từng viết về những tác động có hại của đạo luật này (ví dụ: Kato 1989; Antlov 1995; Zakaria 2000). Về các tranh luận đối lập, xem Adhuri 2002, những tranh luận cho rằng các quan chức địa phương có quyền lựa chọn hoặc là những quy định pháp luật của làng hoặc luật tục phụ thuộc vào những vấn đề chính trị lúc bấy giờ. . Những vị chức trách trong làng trở thành người giúp việc cho chính quyền trung ương và có trách nhiệm với chính quyền trung ương hơn là với cộng đồng địa phương. Như Dieter Bartel (2000) đã chỉ ra rằng, những nhà chức trách của làng, họ không mấy quan tâm đến việc trao truyền các giá trị truyền thống, vốn chẳng đem lại lợi lộc gì cho họ cả”. Điều luật liên quan đến đơn vị hành chính làng cũng gây tác động tiêu cực đối với năng lực quản lý việc sử dụng các nguồn lợi và bảo vệ hệ thống đất đai của địa phương (McCarthy 2000: 111). Những vị chức trách ở Loca là những người trước đây giám sát việc phân bổ khai thác các nguồn lợi và quản lý đất đai của làng, giờ đã mất vị trí đứng đầu làng và hiện nay họ đang triển khai các chính sách trên theo sự điều hành của nhà nước.
Luật làng năm 1979 cho đến nay đã bị thay thế bởi hai điều luật mới về tự trị khu vực (Điều luật 22/1999 về Quản lý khu vực và Điều luật 25/1999 về cân bằng tài chính giữa chính quyền trung ương và khu vực). Chính những điều khoản luật mới này đã xây dựng nên khung pháp lý cho sự chuyển đổi quyền và trách nhiệm quản lý từ chính quyền Trung ương Jakarta tới chính quyền cấp khu vực. Và khi quyền sử dụng các nguồn lợi đã không còn tập trung như trước thì đồng nghĩa là những người thiểu số bản địa có cơ hội để lấy lại quyền kiểm soát các nguồn tài nguyên thiên nhiên thông qua nền chính trị dân chủ ở cấp địa phương. Tuy nhiên, nhìn dưới góc độ tiêu cực, những điều luật này đã khuyến khích chính quyền trung ương ở cấp quận/hạt thâu tóm mọi nguồn thu thông qua việc khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên vì họ sẽ được chia phần trăm lợi nhuận của việc khai thác Xem DTE 2000b về việc giải thích vấn đề thu nhập từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên sẽ được chia như thế nào. Xem Casson 2001 và McCarthy 2001 nghiên cứu những tác động của sự phân quyền đối với chính sách lâm nghiệp. . Các cộng đồng thiểu số phải chịu những tác động tiêu cực của những hành động đó vì chính phủ không hề quan tâm đến quyền về đất đai của họ khi tiến hành các hình thức nhằm gia tăng nguồn thu. Động cơ của chính phủ không chỉ đơn thuần là vấn đề tài chính, những khu vực không có khả năng phát triển tài chính sẽ bị sáp nhập vào các khu vực khác, và sẽ mất quyền tự trị. Các tổ chức phi chính phủ lo ngại rằng chính quyền địa phương sẽ cho phép các công ty nước ngoài vào làm việc ngay cả khi các công ty đó có những phương châm làm việc kém đảm bảo về môi trường và xã hội hơn cả những công ty hiện đang làm việc dưới thể chế liên bang như hiện nay (DTE 2000a).
Sự phát triển Phong trào của Người Bản địa
Như đã đề cập ở trên, chính phủ Inđônêxia cho rằng khái niệm “người bản địa” là không thích hợp với đất nước của họ vì tất cả người dân Inđônêxia, trừ người Hoa, đều là người bản địa. Quan điểm này cản trở sự phát triển các hoạt động của người bản địa trong suốt Thời kỳ Trật tự Mới. Vào những năm 1990, các tổ chức cứu trợ quốc tế bắt đầu chú ý đến hoàn cảnh khó khăn của các nhóm thiểu số bản địa trên toàn thế giới, và kết quả là các nhóm địa phương bắt đầu thực hiện tổ chức lại trên toàn khu vực quần đảo. Tuy nhiên, không có một phong trào nào có phạm vi trên toàn quốc gia tồn tại để đấu tranh vì quyền lợi của các nhóm thiểu số bản địa, là nhóm người chịu ảnh hưởng nhiều nhất bởi các chính sách phát triển của chính phủ. Năm 1993, mạng lưới ủng hộ người bản địa (JAPHAMA) được thành lập, được coi là hành động đầu tiên hướng tới việc xây dựng một mạng lưới trên phạm vi quốc gia. Mạng lưới này bao gồm khá nhiều các tổ chức phi chính phủ, cá nhân và các nhóm cộng đồng trên toàn khu vực đảo. Trong suốt thời gian đó, JAPHAMA quyết định sử dụng thuật ngữ “cộng đồng luật tục” chứ không phải là cái tên mà chính phủ gán cho “các cộng đồng biệt lập” (Fay và Sirait 2001: 130-131).
Bước tiếp theo là vào tháng 3 năm 1999, khi JAPHAMA cùng với các tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế khác tổ chức một cuộc hội thảo về người bản địa ở Jakarta nhằm thảo luận vấn đề quyền của người bản địa (DTE 1999a, 1999b; Kartika và Gautama 1999; Kompas 1999; Suara pembaruan Daily, 1999). Những người tham dự hội thảo đã thống nhất thành lập liên minh của người bản địa ở khu vực quần đảo (AMAN). Những người sáng lập AMAN tin rằng tổ chức của họ là thực sự cần thiết bởi vì “các cộng đồng truyền thống chính là nhóm chủ yếu bị nguy hại nhất (và bị biến thành nạn nhân) do quan điểm phát triển của chính phủ trong suốt ba thập kỷ qua”. Do đó, tổ chức này hướng tới việc đại diện cho những người bản địa khẳng định quyền liên quan đến đất đai của họ với chính phủ. AMAN định nghĩa người bản địa là “những cộng đồng người có đất ông cha trên một phạm vi địa lý nhất định và có hệ giá trị riêng, hệ tư tưởng, kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội vận hành trên mảnh đất mẹ thiêng liêng của họ” (DTE 1999b). AMAN hiện nay có đại diện ở 22 tỉnh và đang có kế hoạch mở rộng phạm vi hơn nữa (AMAN n.d.: 44-49).
Kết luận: Tình trạng không ổn định
Khi chương trình PKAT được đặt trong bối cảnh rộng lớn hơn, thì dường như chương trình đó chẳng có ý nghĩa gì cả. Sau những thực tế đã xảy ra, người ta có thể nói đó chỉ là một cách giải quyết với người dân địa phương – những người chịu tác động tiêu cực bởi tiến trình phát triển trên quy mô rộng lớn hơn (chẳng hạn như quá trình di dân, khai thác gỗ, khai thác mỏ). Người dân bị buộc phải tái định cư không phải vì lợi ích của họ mà vì lợi ích của quốc gia, là phải đưa họ ra ngoài lộ trình của phát triển. Mặc dù một số tác giả có cho rằng những người làm việc cho PKAT có động cơ tích cực (Persoon 1998; Li 1999), nhưng cái hệ thống mà họ đang làm việc về cơ bản đã có sự rạn nứt và nó có xu hướng tước đi quyền công dân của những người bị coi là dễ bị tổn thương nhất. Lời buộc tội cho rằng chương trình PKAT chính là một hình thức phân biệt chủng tộc, Java hóa và cai trị về mặt văn hóa (Colchester 1986, Monbiot 1989) đã bị chính phủ Inđônêxia giẫm đạp lên. Những vấn đề nổi cộm của chương trình PKAT cũng chính là vấn đề mà chính phủ Inđônêxia mắc phải và quan trọng hơn đó là cái nhìn của rất nhiều người dân Inđônêxia với những người thiểu số bản địa.
Từ năm 1998, việc chiếm hữu đất ngày càng suy giảm và tình trạng không có quyền lực ảo của người bản địa cũng được giải quyết. Những thay đổi mạnh mẽ này bắt đầu xuất hiện từ khi Soeharto sụp đổ và mở ra hy vọng le lói cho nhiều cộng đồng thiểu số. Niềm hy vọng này trải dài trên sự hiện diện mới của xã hội dân sự thời kỳ hậu Trật tự Mới ở Inđônêxia. Thời kỳ dân chủ hóa từng bước nền chính trị, xóa bỏ những cấm cản với độc lập dân sự, sự nở rộ của tự do ngôn luận và phê bình đã giúp cho các tổ chức phi chính phủ đóng vai trò quan trọng hơn trong việc bảo vệ quyền của người bản địa. Triển vọng cải cách pháp lý sắp đến và mang lại tương lai tươi sáng hơn cho các nhóm người này. Luật Lâm nghiệp cơ sở đặc biệt chú ý tới quyền của cộng đồng về vấn đề khai thác và sở hữu rừng. Câu chuyện cải cách ruộng đất có thể thay đổi Luật Đất đai cơ sở 1965 và hy vọng nó sẽ mang đến cho người thiểu số bản địa sự an toàn hơn trong sở hữu đất đai (Lucas và Warren 1999). Hơn nữa, một số điều luật bị bỏ qua trong suốt thời Soeharto nay sẽ được thực thi, chẳng hạn như Điều luật số 10 năm 1992 cho các gia đình hạnh phúc và thịnh vượng. Điều luật này thừa nhận quyền của người thiểu số bản địa với đất đai và các nguồn lợi, và quan trọng hơn là điều luật này kết hợp với các chương trình đã nói ở trên thừa nhận quyền tự trị về văn hóa trong việc lựa chọn những yếu tố cần phải thay đổi cho sự phát triển của họ, đây là điều mà chương trình PKAT luôn chối bỏ. (Zerner 1992: 85).
Cũng phải nhận thấy một điều rằng bối cảnh của nhà nước Inđônêxia vào thời điểm tác giả viết bài viết này đang có nhiều biến đổi. Đất nước đang trên con đường chấm dứt thời kỳ tàn bạo của thể chế Trật tự Mới và đang trải qua những cuộc bạo động tôn giáo tộc người ở hầu như khắp nơi trên toàn đất nước, chẳng hạn như sự phát triển của phong trào kêu gọi độc lập ở Aceh và Papua. Tình trạng bạo lực ở khắp mọi nơi trong khu vực quần đảo, chẳng hạn như ở các tỉnh miền bắc Malulu hay miền trung Sulawesi, mặc dù không hướng trực tiếp vào người bản địa, những rõ ràng đó là một hiểm họa (Xem Aragon 2001; Duncan 2002a). Lịch sử Đông Nam Á đã cho thấy rằng các cuộc chiến tranh và xung đột để lại hậu quả nghiêm trọng nhất cho những nhóm người được hưởng lợi ít nhất từ các cuộc xung đột. Vậy chính phủ sẽ giải quyết vấn đề này như thư thế nào? Chỉ có thể bằng cách tạo cho những nhóm bị ngoại vi hóa có tiếng nói lớn hơn và có vai trò quan trọng hơn chứ không để họ bị lãng quên như trước đây.

Danh mục các từ viết tắt được dùng trong bài

AMAN: Aliansi Masyarakat Adat Nusantara (Alliance of Indigenous Peoples of the Archipelago) Liên minh các Dân tộc Bản địa ở quần đảo

DBMT: Direktorat Bina Masyarakat Terasing (Directorate for Developing Isolated Tribal Communities. Ban điều hành Chương trình Phát triển các cộng đồng thổ dân sống biệt lập
HBD: Hak Pengusahaan Hutan Bina Desa (Forest Concessionaires Forest Village Development Program) Chương trình Phát triển Làng trong rừng của những chủ đồn điền rừng.
KAT: Komunitas adat terpencil (geographically isolated customary law communities) Các Cộng đồng Luật tục Sống Cách biệt về Địa lý)
KDTI: Kawasan Dengan Tujuan Istimewa (“Area with special objectives”, a new category of forest created by the Department of Forestry) (“Rừng đặc dụng”, một loại hình rừng mới do Bộ Lâm nghiệp đề ra)
PKSMT: Pembinaan Kesejahteraan Sosial Masyarakat Terasing (Program for the Development of Social Prosperity of Isolated Communities) Chương trình vì Sự Phát triển Phồn vinh Xã hội của các Cộng đồng biệt lập

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Adhiati, M. Adriana Sri, and Armin Bobsien, eds, 2001. Indonesia”s Transmigration Programme – An Update. A report prepared for Down To Earth. Http: // dte.gn.apc.org/crans.htm.
2. Adhuri, Dedi Supriadi, 2002. “Antara Desa dan Marga: Pemilihan Struktur pada Perilaku Elit Lokal di Kabupaten Lahat, Sumatera Selatan”. Antropologi Indonesia 68: 1-12.
3. AMAN.n.d. Buku Panduan Umum Bagi Pengurus, Anggota dan Pendukung Aliansi Masyarakat Adat Nusantara: Menyarukan Gerak Langkah Menuju Kedaulatan Masyarakat Adat. Jakarta.
4. Antlov, Hans. 1995. Exemplary Centre, administrative Periphery: Rural Leadership and the New Order in Java. Richmond, Surrey: Curzon Press.
5. Aragon, Lorraine V. 1999. Fields of the Lord: Animism, Christian Minorities, and State Development in Indonesia. Honolulu: University of Hawaii Press.
6. ____,2001. “Communal Violence in Poso, Central Sulawesi: Where People Eat Fish and Fish Eat Peole”. Indonesia 72: 45-79.
7. Atkinson, Jane. 1983. “Religion in Dialogue: The Construction of an Indonesian Minority Religion”. American Ethnologist 10: 684-96.
8. Barber, Charles Victor, and James Schweithelm. 2000. Trial by Fire: Forest Fires and Forestry Policy in Indonesias Era of Crisis and Reform. Washington, D.C.: World Resources Institute.
9. Bartels, Dieter. 2000. Your God Is No Longer Mine: Moslem-Christian Frantricide in the Central Moluccas (Indonesia) after a Half-Millennium of Tolerant Co-Existence and Ethnic Unity. http: //www.geocities.com/alifuru67/noframe/bartels2707y2k.htm.
10. Brown, David. 1999. Addited to Rent: Corporate and Spatial Distribution of Forest Resources in Indonesia; Implications for Forest Sustainability and Government Policy. Report No: PFM/EC/99/06. Jakarta: Indonesia UK Tropical Forestry Management Programme.
11. Bubandt, Nils. 1998a. “The Race for Resources: Timber Estates, Transmigration and the Political Economy of Natural Resources in Halmahera”. In Old World Places, New World Problems: Exploring Resource Management Issues in Eastern Indonesia, edited by S.Pannell and F.von Benda-Bechman, 205-42. Canberra: Centre for Resource and Environmental Studies, The Australian National University.
12. _____.1998b. “Profile of a Modern Utopia: Timber Plantations as Exemplary Centers of Indonesian Modernity”. Canberra Anthropology 21: 28-59.
13. Casson, Anne. 2001. Decentralisation of Policies Affecting forests and Estate Crops in Kotawaringin Timur District, Central Kalimantan, Case Study 5. Bogor: CIFOR.
14. Colchester, Marcus. 1986. “Unity and Diversity: Indonesian Policy towards Tribal People”. The Ecologist 16: 89-98.
15. DBMT (Direktorat Bina Masyarakat Terasing). 1988a. Petunjuk Alokasi Penempatan Daerah Transmigrasi. Jakarta.
16. ______. 1988b. Petunjuk Teknis Pelaksanaan Pembinaan Kesejahteraan Masyarakat Terasing. Jakarta.
17. ______1992a. Kumpulan: Makalah Penanganan Masyarakat Terasing di Indonesia. Jakarta.
18. ______1992b. Pemukiman Sosial Masyarakat Terasing di Indonesia. Jakarta.
19. ______1994a. Development Pattern for the Welfare of Isolated Comunities. Jakarta.
20. ______1994b. Program Replita VI: PKSMT. Jakarta.
21. ______1999. Pembinaan Permukiman Sosial Komunitas Adat Terpencil. Jakarta.
22. ______n.d. Sekilas Info Komunitas Adat Terpencil. Jakarta.
23. Depsos (Departement Sosial). 1994. Keputusan Menteri Sosial RI Nomor 5/HUK?1994 tentang Pembinaan Kesejahteraas Sosial Masyarakat Terasing. Jakarta.
24. _____. 1999. Keputusan Menteri Sosial RI Nomor 97/HUK/1999 tentang Pembinaan Kesejahteraan Sosial Komunitas Adat Terpencil. Jakarta.
25. Direktorat Jenderal Reboisasi dan Rehabilitasi Lahan, Departement Kehutanan. 1993. “Program HPH Bina Desa Hutan untuk Meningkarkan Kesejahteraan Masyarakat Sekitar Hutan”. Kehutanan Indonesia 3: 6-10.
26. Dove, Michael R. 1983. “Theories of Swidden Agriculture and the Political Economy of Ignorance”. Agroforestry System 1: 85-99.
27. _____. 1988. “The Ecology of Intoxication among the Kantu”. In The Real and Imagined Role of Culture in Development: Case Studies from Indonesia, edited by M.R. Dove (Down to Earth), 1999a. “AMAN: Indonesias New Indigenous Voice”. Down to Earth 41.
28. _____, 1999b. “AMANs Aims and Organisation”. Down to Earth, Special Issue, October 1999.
29. _____, 1999c. “Forestry Act Fiercely Opposed”. Down to Earth 42.
30. _____, 1999d. “New Act Thwarts Reformers”. Down to Earth 43.
31. _____, 1999e. “Taking the Message to the Top. Down to Earth, Special Issue, October 1999.
32. _____, 2000a. “Foreign Investment and Regional Autonomy”. Down to Earth 46.
33. _____, 2000b. “Regional Autonomy, Political Will and the Economy”. Down to Earth 46.
34. _____, 2001. “Moronene People Forced Out of National Park”. Down to Earth 48.
35. _____, 2002. “Moronene People Evicted”. Down to Earth 54.
36. Duncan, Christopher R, 1998. Ethnic Identity, Christian Conversion and Resettlement among the Forest Tobelo of Northeastern Halmahera, Indonesia. Ph.D. diss., Yale University.
37. ____, 2002a. “The Aftermath of a Civil War”. Inside Indonesia Jan-Apr. 2002.
38. ____, 2002b. “Resettlement and Natural Resources in Halmahera, Indonesia”. In Conservation and Mobile Indigenous People: Conservation, Displacement and Forced Resettlement, edited by D. Chatty and M. Colchester, 366-81. Oxford: Berghahn Press.
39. Echols, John and Hasan Shadily. 1977. An Indonesian-English Dictionary. Ithaca: Cornell University Press.
40. Eldridge, Philip J. 1995. Non-Government Organizations and Democratic Participation in Indonesia. Kuala Lumpur: Oxford Unversity Press.
41. Ellen, Roy F. 1994. “Rhetoric, Practice and Incentive in the Face of Changing Times: A Case Study in Nuaulu Attitudes to Conservation and Deforestation”. In Environmentalism: The View from Anthropology, edited by K. Milton, 126-43. London: Routledge.
42. Fanany, Rebacca and Z.Mawardi Effendi. 2000. “Minangkabau Children to Indonesian Adults: Promoting Public Policy through Indonesian Language Teaching in West Sumatra, Indonesia”. Crossroads 13: 105-13.
43. Fay, Chip, and Martua Sirait. 2001. “Reforming trhe Reformists: Challenges to Government Forestry Reform in Post-Suharto Indonesia”. In Which Way Forward? People, Forests, and Policy in Indonesia, edited by C.J.P. Colfer and A.P. Resosudarmo, 126-43. Singapore: ISEAS.
44. Gunawan, Rimbo, Juni Thamrin and Endang Suhendar. 1999. After the Rain Falls…: The Impact of the East Kalimantan Forestry Industry on Tribal Society. Bandung: Yayasan Akatiga.
45. Harwell, Emily E., and Owen J. Lynch. 2002. Whose Resources ? Whose Common Good ? Washington D.C.: Center for International Environment Law.
46. Hawkins, M. 1989. “Slametan in South Kalimantan”. In Creating Indonesian Culture, edited by P. Alexander, 159-74. Sydney: Oceania Publications.
47. Heryanto, Ariel. 1988 “The Development of Development”. Indonesia 48: 1-24.
48. Human Right Watch. 2003. Without Remedy: Human Rights Abuses and Indonesias Pulp and Paper Industry. Washington D.C.: Human Right Watch.
49. Kartika, Sandra, and Candra Gautama, eds. 1999. Menggugat Posisi Masyarakat Adat Terhadap Adat Negera: Prosiding Sarasehan Nasyarakat Adat Nusantara Jakarta, 15-16 Maret 1999. Jakarta: Panitia Bersama Sarasehan dan Kongres Masyarakat Adat Nusantara 1999 and Lembaga Studi Pers dan Pembangunan.
50. Kato, T. 1989. “Different Fields, Similar Locusts: Adat Communities and the Village Law of 1979 in Indonesia”. Indonesia 47: 89-114.
51. Keane, Webb. 1997. Signs of Recognition: Powers and Hazards of Representation in an Indonesian Society. Berkeley: University of California Press.
52. Koentjaraningrat, ed. 1993. Masyarakat Terasing di Indonesia. Jakarta: PT Gramedia Pustaka Utama.
53. Pompas. 1999. “Masyarakat Adat Gagal Temui Wakil Rakyat”. 23 March.
54. Koran Tempo. 2002. “Gubernur Sultra Paksa Masyarakat Adat Moronene Transmigrasi”. 14 January.
55. Kuipers, Joel. 1990. Power in Performance: The Creation of Textual Authority in Weyewa Ritual Speech. Philadelphia: University of Pensylvania Press.
56. Kusworo, Ahamad. 2000. Perambah Hutan atau Kambing Hitam ? Potret Sengketa Kawasan Hutan di Lampung. Bogor: Pustaka Latin.
57. Leith, Jennifer. 2001. Representation, Resources and Resettlement as Development in Eastern Indonesia. Ph.D. diss., University of East Anglia.
58. Li, Tania. . “Compromising Power: Development, Culture, and Rule in Indonesia”. Cultural Anthropology 14: 295-322.
59. Lucas, Anton, and Corol Warren. 1999. “Agrarian Reform in the Era of Reformasi”. In Indonesia in Transition: Social Aspects of Reformasi and Crisis, edited by C.Manning and Pvan Dierman, 220-38. Singapore: Institute of Southeast Asian Studies.
60. Lynch, Owen J., and Kirk Talbott. 1995. Balancing Acts: Community-Based Forest Management and National Law in Asia and the Pacific. Washington, D.C.: World Resources Institute.
61. McCarthy, John F. 2000. “The Changing Regime: Forest Property and Reformasi in Indonesia”. Development and Change 31: 91-129.
62. ____. 2001. Decentralisation and Forest Management in Kapuas District, Central Kalimantan, Case Study I. Bogor: CIFOR.
63. Michon, G., H. de Foresta, A. Kusworo, and P. Levang. 1999. Formal Recognition of Farmers Rights as a Pre-condition for the Re-building of Productive and Durable Community Forests in Indonesia: The Damar Agroforests in Krui, Sumatra. http: // www.mtnforum.org/resources/library/michx99a.htm.
64. Monbiot, George. 1989. Poisoned Arrows: An Investigative Journey through Indonesia. London: Joseph.
65. Persoon, Gerad. 1998. “Isolated Groups or Indigenous Peoples: Indonesia and the International Discourse”. Bijdragent tot de Taal-, Land-, en Volkenkunde 154: 281-304.
66. Planning Bureau, Secretariat General, Ministry of Forestry. 1993. The Study of Enhancing the Roles of Local Communities in the Development of Forestry Resources. The Natural Resources Management Project: Final Report. Jakarta: P.T. Ardes Perdana.
67. Rachmadi, Sri. 1990. Pola Pembiaan Masyarakat Terasing. Paper presented at the Seminar Pemantapan Pemahaman Masyarakat Terasing tentang Masyarakat Terasing, Jakarta, Indonesia.
68. redaksi Sinar Grafika. 1999. Undang-undang HAM 1999. Jakarta: Sinar Grafika. Riker, James V. 1998. The State, Institutional Pluralism, and development from Below: The Changing Political Parameters of State-NGO Relations in Indonesia. Ph.D. diss., Cornell University.
69. Safitri, Myrna. 1996. “Saresehan Tentang Akses Masyarakat Lokal Pada Sumberdaya Hutan Dalam Penerapan Peraturan Perundang-undang”. Ekonesia 4: 136-41.
70. Schiller, Anne. 1997. Small Sacrifices: Religious Change and Cultural Identity among the Ngaju of Indonesia. New York: Oxford University Press.
71. Sirait, Martua, Chip Fay, and A. Kusworo. 2000. Bagaimana Hak-hak Masyarakat Hukum Adat dalam Mengelola Sumber Daya Alam Diatut ? Revised version of a paper first presented at Seminar Perencanaan Tata Ruang Secara Partisipatif, Bandar Lampung, Indonesia.
72. Suara Pembaruan Daily. 1999. “Dari Kongres Masyarakat Adat Nusantara (KMAN): Tidak Boleh Lagi Ada Istilah Suku Terasing”. 8 April.
73. Suparlan, Parsudi. 1995. Orang Sakai di Riau: Masyarakat Terasing dalam Masyarakat Indonesia. Jakarta: Yayasan Obor Indonesia.
74. Tjitradjadja, Iwan. 1993. “Differential Access to Resources and Conflict Resolution in a Forest Concession in Irian Jaya”. Ekonesia 1: 58-69.
75. TPKPPB (Tim Penyusun Kamus Pembinaan dan Pengembangan Bahasa). 1997. Kamus Besar Bahasa Indonesia.2d ed. Jakarta: Balai Pustaka.
76. Tsing, Anna L. 1993. In the Realm of the Diamond Queen: Marginality in an Out-of-the Way Place. Princeton: Princeton University Press.
77. Van Langenberg, Michael. 1986. “Analysing Indonesias New Order State: A Keywords Approach”. Review of Indonesian and Malaysian Affairs 20: 1-47.
78. Volkman, Toby. 1990. “Visions and Revisions: Toraja Culture and the Tourist Gaze”. American Ethnologist 17: 91-110.
79. WALHI (Wahana Lingkungan Hidup Indonesia). 1992. Peran HPH dalam Pembangunan, Ekonomi Regional Kalimantan Timur. Jakarta: WALHI.
80. ____. 2002. Siaran Pers Hentikan Kejahatan Kemanusian Terhadap Masyarakat Adat Moronene, Sulawesi Tenggara: Seruan Bersama Atas Operasi Supu Jagat (OSJ) IV oleh Pemda Sulawesi Tenggara di Taman Nasional Rawa Aopa Watumohai (TNRAW). http://www.walhi.or.id/Siaran%20Pers/Siaran%Pers.htm.
81. World Bank. 1994. Indonesia Transmigration Program: A Review of Five Bank-Supported Projects. Report No.12988. Washington, D.C.
82. ____. 1999. Deforestation in Indonesia. A Preliminary View of the Situation in Sumatra and Kalimantan. Jakarta. Working Draft, 16 August.
83. Zakaria, Yando R. 2000. Abih Tandeh: Masyarakat Desa di Bawah Rezim Orde Baru. Yogyakarta: INSIST Press.
84. Zaman, Mohammand. 2002. “Resettlement and Development in Indonesia”. Journal of Contemporary Asia 32: 255-66.
85. Zerner, Charles. 1992. Indigenous Forest-Dwelling Communities in Indonesias Outer Islands: Livelihood, Rights, and Environmental Management Institutions in the Era of Industrial Forest Exploitation. Unpublished Report Commissioned by the World Bank in preparation for the Forestry Sector Review.