Vấn đề nguồn gốc tộc người và sự hình thành loại hình nhân chủng Khmer

Vấn đề nguồn gốc tộc người và sự hình thành loại hình nhân chủng Khmer

Nguyễn Khắc Cảnh*

Nghiên cứu tộc người là phải tìm hiểu và đưa ra được cội nguồn của tất cả những thành phần sẽ tham gia vào việc cố kết để hình thành nên tộc người đó trong tương lai. Đồng thời là nghiên cứu cụ thể từng thời kỳ của quá trình hình thành tộc người cho đến khi tộc người đó trở thành như một cộng đồng thống nhất bền vững với một tộc danh riêng. Nghiên cứu nguồn gốc tộc người của người Khmer cũng không nằm ngoài những phạm vi nêu trên. Vấn đề càng có ý nghĩa quan trọng và cấp thiết hiện nay, vì việc làm rõ về nguồn gốc tộc người Khmer sẽ là cơ sở khoa học để làm rõ quá trình hình thành cộng đồng người Khmer ở Nam Bộ của Việt Nam. Nó cũng là cơ sở để đánh giá đúng những mối quan hệ mang tính tộc người, giữa bộ phận người Khmer ở Nam Bộ Việt Nam và người Khmer ở Campuchia, trong mối quan hệ hoàn toàn độc lập về xã hội và chính trị giữa hai bộ phận người Khmer thuộc hai quốc gia dân tộc khác nhau.

Nghiên cứu nguồn gốc tộc người là “sự tổng hợp những quá trình và những hiện tượng trong tiến trình hình thành của dân tộc này hay dân tộc khác, dẫn đến sự hoàn thành một cách trọn vẹn bộ mặt của dân tộc đó” (Tổng hợp các khái niệm, các thuật ngữ dân tộc học, 1988, tr.59). Vấn đề nguồn gốc tộc người thường gắn liền với thời kỳ xa xăm, thời kỳ thành hình của tộc người, vì vậy là vấn đề hết sức khó khăn và phức tạp, đòi hỏi phải có sự tham gia của nhiều ngành khoa học như Nhân học, Khảo cổ học, Ngôn ngữ học, Dân tộc học, Lịch sử, và Văn hóa dân gian (folklore)… Phạm vi nghiên cứu của nó được giới hạn từ khi xuất hiện những thành tố đầu tiên tham gia vào sự cấu thành tộc người, đến khi tộc người ấy được hình thành trọn vẹn như một cộng đồng thống nhất, với ý thức tự giác tộc người được biểu hiện bằng một tộc danh riêng. Còn những quá trình tiếp theo sau đó thuộc vào những vấn đề khác của phạm trù nghiên cứu lịch sử tộc người.

Trong phương pháp luận, nghiên cứu vấn đề nguồn gốc tộc người thường được chia thành hai phần liên hệ chặt chẽ với nhau:

– Phần thứ nhất, người nghiên cứu phải tìm hiểu và đưa ra được cội nguồn của tất cả những thành phần sẽ tham gia vào việc cố kết để hình thành nên tộc người đó trong tương lai. Trong phần này, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng là các tư liệu của Nhân chủng học, Khảo cổ học, Ngôn ngữ học và phần nào đó những tài liệu của Folklore.

– Phần thứ hai, là nghiên cứu cụ thể từng thời kỳ của quá trình hình thành tộc người cho đến khi tộc người đó trở thành như một cộng đồng thống nhất bền vững với một tộc danh riêng. Giai đoạn này tài liệu được sử dụng nhiều hơn là các tài liệu thành văn và các dấu tích lịch sử còn để lại. Chính việc phân tích những tài liệu lịch sử này cho phép người nghiên cứu xác định được khi nào và trong điều kiện nào quá trình tập hợp của tộc người đã hoàn thành, đánh dấu sự ra đời của tộc người đó trong ý nghĩa đầy đủ của nó.

Nghiên cứu nguồn gốc tộc người của người Khmer cũng không nằm ngoài những phạm vi nêu trên. Vấn đề càng có ý nghĩa quan trọng và cấp thiết hiện nay, vì việc làm rõ về nguồn gốc tộc người Khmer sẽ là cơ sở khoa học để làm rõ quá trình hình thành cộng đồng người Khmer ở Nam Bộ của Việt Nam. Nó cũng là cơ sở để đánh giá đúng những mối quan hệ mang tính tộc người, giữa bộ phận người Khmer ở Nam Bộ Việt Nam và người Khmer ở Campuchia, trong mối quan hệ hoàn toàn độc lập về xã hội và chính trị giữa hai bộ phận người Khmer thuộc hai quốc gia dân tộc khác nhau.

1. NGUỒN GỐC TỘC NGƯỜI VÀ SỰ HÌNH THÀNH LOẠI HÌNH KHMER

Văn hóa khảo cổ thời tiền sử ở Campuchia còn rất ít ỏi, đặc biệt là văn hóa thời đại đồ đá. Vào những năm 60 E. Saurin (E. Xôrin) đã công bố về những hòn đá cuội được ghè đẽo theo kỹ thuật đá cũ, có niên đại được đoán định khoảng 60 vạn năm cách ngày nay, tuy vậy đây là những hiện vật được tìm thấy một cách tự nhiên trên thềm sông Mekong. Những hiện vật này, tuy chưa đủ để hình dung về một nền văn hóa đá cũ hoàn chỉnh, nhưng dù sao nó cũng đã chứng tỏ về sự hiện diện của những người tối cổ đá cũ ở Campuchia.

Tại di chỉ Laang Spean ở Bátđomboong, do R.Mourer (R.Murê) tiến hành khai quật, đã phát hiện nhiều công cụ đá có dạng thô lớn, ghè đẽo một mặt, được đánh giá thuộc kỹ thuật văn hóa Hòa Bình. Bên cạnh đó còn có nhiều gốm với chất liệu thô sơ và hoa văn đơn giản, đặc biệt là còn phát hiện được một chiếc tô có chân, điều này đã chứng tỏ mối quan hệ rộng của những chủ nhân ở đây với các khu vực khác ở Đông Nam Á từ rất sớm. R.Mourer đã đánh giá Laang Spean là di chỉ đá mới (có niên đại khoảng 4000 năm TCN) mang những đặc trưng địa phương với sự tiến bộ kỹ thuật rất chậm chạp.

Thuộc văn hóa đá mới – đồng thau đã được phát hiện là hai di chỉ Samrong Sen và Long Pdau trên bờ sông Tônlêsáp, niên đại hơn 1000 năm TCN đến khoảng đầu Công nguyên. Hiện vật ở hai di chỉ này là rìu mài, đồ gốm và hiện vật đồng thau. So với Laang Spean thì Samrong Sen là một bước phát triển mới, đồng thời có mối liên hệ khá rõ với khu vực Còrạt và vùng ven biển Đông.

Thuộc thời đại đồng thau và sơ kỳ sắt có di chỉ Mluprây ở đông bắc Campuchia, niên đại được đoán định là vào khoảng năm, sáu thế kỷ đầu công nguyên. Kỹ thuật chế tác công cụ ở Mluprây là sự tiếp nối của Samrong Sen ở trình độ cao hơn, đồng thời hiện vật của Mluprây cũng thể hiện mối liên hệ rất rõ về văn hóa với vùng cao nguyên Còrạt ở gần đó.

Những phát hiện khảo cổ học về thời kỳ tiền sử ở Campuchia còn dừng lại ở đó. Tình trạng hiểu biết hiện tại mới chỉ cho phép có những nhận xét bước đầu rằng: đến thời kỳ đá mới, nền văn hóa tiền sử Campuchia đã mang những sắc thái địa phương, được tập trung và phát triển tương đối nhanh hơn ở vùng Đông Bắc Biển Hồ. Sự có mặt một cách tiếp nối các di chỉ khảo cổ được xếp vào văn hóa đá mới (Laang Spean), đá mới – đồng thau (Samrong Sen), rồi đến đồng thau – sắt sớm (Mluprây), chứng tỏ rằng: thời tiền sử, một bộ phận cư dân cổ Đông Nam Á đã có mặt trên đất nước Campuchia. Bộ phận cư dân đó (theo phân bố của các di chỉ khảo cổ), thời xa xưa, sinh tụ tập trung chủ yếu ở vùng địa bàn thuộc Đông Bắc Biển Hồ và lưu vực sông Sêmun chảy qua Còrạt (nay thuộc Thái Lan) (Lương Ninh, 1984, tr.68).

Cư dân Campuchia ngày nay chủ yếu là người Khmer, vậy bộ phận cư dân thời tiền sử và người Khmer bây giờ có mối quan hệ như thế nào? Theo kết quả nghiên cứu của nhân chủng học bộ phận cư dân ấy thuộc loại hình nhân chủng nào?

Trong mối quan hệ Nhân học (Anthropology), từ xa xưa, Đông Nam Á được coi là cái nôi sinh thành của đại chủng Australoid (Úc – Oxtralôít) đồng thời cũng là nơi gặp gỡ, tiếp xúc giữa hai đại chủng Australoid ở phía Nam và đại chủng Mongoloid (Á – Môngôlôít) ở phía bắc. Kết quả của quá trình tiếp xúc này đã làm nảy sinh ở đây nhiều loại hình nhân chủng mang tính trung gian, với các mức độ kết hợp khác nhau những đặc điểm hình thái của hai đại chủng Australoid – Mongoloid. Các loại hình trung gian này, sau khi xuất hiện lại tiếp tục chuyển biến không ngừng, một mặt là tác động, chuyển biến lẫn nhau; mặt khác là tác động trở lại với các dạng nguyên của các chủng tộc gốc (Australoid và Mongoloid). Chính trong bối cảnh của các mối tác động qua lại chồng chéo và phức tạp này đã làm nảy sinh ở Đông Nam Á cổ hai loại hình nhân chủng là Indonesien (Anhđônêdiên) cổ và Vedoid (Vêđôít) cổ. Đây là hai loại hình nhân chủng cơ bản, tạo nên lớp cư dân tầng nền bản địa của Đông Nam Á cổ, mà các học giả phương Tây gọi là người “Proto-Indochinoise” (Nguyên Đông Dương) hay “Proto-Sut-Est-Asiatique” (Nguyên Đông Nam Á). So sánh về đặc điểm hình thái, người Indonesien cổ và Vedoid cổ giống nhau về các đặc điểm cơ bản: da sẫm màu, tóc thường uốn làn sóng, mũi rộng, môi dày, hình dạng hộp sọ dài hay trung bình, tầm vóc người thấp khoảng từ 155cm đến 158cm. Sự tương đồng về những đặc điểm hình thái cơ bản đó đã chứng tỏ hai loại hình này đều xuất phát chung từ một nguồn gốc. Còn một vài khác biệt giữa hai loại hình này là không cơ bản và chủ yếu là: thứ nhất, người Vedoid có tỷ lệ tóc uốn thường gặp, còn người Indonesien lại có tỷ lệ tóc thẳng nhiều hơn; thứ hai, trong khi người Indonesien có đặc điểm nếp mi góc (mắt một mí) tương đối phát triển (khoảng 20% – 40%) thì đặc điểm này ở người Vedoid lại rất ít gặp. Đây là lý do mà, khi đánh giá về mức độ pha tạp hình thái, các nhà nhân chủng nhận xét rằng: người Indonesien mang nhiều nét Mongoloid, còn người Vedoid mang đậm sắc thái Australoid hơn.

Ngày nay, hậu duệ của hai loại hình này là những tộc ít người, cư trú ở những vùng rừng núi xa xôi hay ở sâu trong các đảo. Trong các quốc gia ở Đông Nam Á, những tộc người này thường được gọi bằng một tên chung như: người “Thượng” ở Việt Nam, người “Pnong” ở Campuchia, người “Khạ” ở Lào, người “Pagal” ở Philippin và Inđônêxia. Tất cả những tên gọi ấy đều có nghĩa là những người ở rừng núi. Trên bán đảo Đông Dương, các tộc người thuộc loại hình Indonesien (chỉ tính những nhóm đã được nghiên cứu về mặt nhân chủng) bao gồm: nhóm Bru-Vân Kiều (ở bắc Trường Sơn), người Xơđăng, người Bana, người Êđê, người Giarai, người Bôlôven (ở Tây Nguyên và hạ Lào), người Khơmú, người Mè, người Hốch (ở thượng Lào). Còn dấu vết của người Vedoid được tìm thấy còn lưu trữ chủ yếu trong các tộc người thổ dân ở Inđônêxia như: người Tôkêa, người Lôinanga (ở Xulavêxi), người Mamak, người Orang Batin (ở Xumatra), người Kayan, người Malanga (ở Calimăngtan). Ngoài ra, trong phần lục địa còn có: người Xênôi ở bán đảo Malaca, người Pear, người Kuy và người Brâu (Brao) ở Campuchia.

Như vậy, dưới góc độ nhân chủng học, cư dân của Đông Nam Á cổ được coi thuộc hai loại hình nhân chủng chủ yếu là Indonesien cổ và Vedoid cổ. Trong đó, người Indonesien chủ yếu phân bố ở phần lục địa và nghiêng về đặc điểm Mongoloid, còn người Vedoid chủ yếu ở phần Đông Nam Á hải đảo và nghiêng về nét Australoid. Tình hình đó tồn tại trong suốt thời kỳ đá mới.

Từ hậu kỳ đá mới và nhất là từ giai đoạn đồng thau, khi các tộc người thuộc dòng Nam Á (Austrasiatique), còn gọi là ngành Mongoloid Phương Nam, cư trú ở nam Trung Quốc (nam bờ sông Dương Tử) bắt đầu lan tràn xuống, xâm nhập vào Đông Nam Á ngày càng nhiều, gây ra một thời kỳ xáo trộn, biến đổi mới về thành phần cư dân ở đây. Nội dung và khuynh hướng chung của quá trình biến đổi này là Nam Á hóa các loại hình nhân chủng bản địa. Nghĩa là làm cho các cư dân bản địa (người Indonesien và Vedoid cổ) của Đông Nam Á đều dần dần, vào những thời điểm lịch sử khác nhau, biến chuyển thành Nam Á.

Trong thời kỳ này, tại một vùng trung tâm của bán đảo Đông Dương (nay thuộc Nam Thái Lan), một nhóm cư dân Vedoid cổ, trước khi chuyển biến thành Nam Á, đã trải qua quá trình biến đổi riêng mà nhân chủng học gọi là sự chuyển biến “đầu hóa ngắn” hay “đầu hóa tròn”. Đó là quá trình biến đổi làm cho chiều dài của đầu (tính từ điểm giữa hai lông mày đến điểm chấn sau gáy) ngắn lại, còn bề ngang của đầu lớn lên (bề ngang đầu được do bằng khoảng cách giữa hai điểm lồi ra nhất của hai vùng mang tai) khiến cho hình dạng của đầu, nhìn từ trên xuống, “tròn” lại hay “ngắn” lại. Kết quả là, nhóm cư dân Vedoid cổ này chuyển biến từ dạng đầu dài (chiều dài của đầu lớn, bề ngang của đầu hẹp) sang dạng đầu “tròn” hay đầu “ngắn” (bề ngang đầu lớn, chiều dài đầu nhỏ), một đặc điểm có tính chất địa phương, khiến cho khối cư dân đã trải qua quá trình biến đổi “đầu hóa ngắn” này, khác biệt với cư dân cổ nói chung ở Đông Dương. Nhà nhân học người Pháp G.Olivier đã gọi nhóm cư dân này là người “Trung tâm Đông Dương” hay loại hình “Trung tâm Đông Dương”. Đây cũng là lý do mà, khi nghiên cứu về người “Nguyên Đông Dương” (Proto- Indochinoise), G.Olivier đã phân biệt khối cư dân ở nam bán đảo Đông Dương thành hai nhóm:

– Nhóm Indonesien đầu dài hay trung bình, tóc thẳng mà hậu duệ là các tộc người “Thượng” ở vùng Trường Sơn – Tây nguyên của Việt Nam bây giờ.

– Nhóm cư dân đầu tròn, da sẫm màu hơn, tóc đa số là tóc uốn làn song, nhóm máu ít Mongoloid hơn, hậu duệ của nó là nhóm cư dân miền núi Campuchia (người Pnông) ngày nay.

Người “Trung tâm Đông dương”, sau khi được hình thành, đã từ vùng đất phát sinh di động ra xung quanh (một trong những nguyên nhân của sự di động này có thể do áp lực di cư xuống phía Nam của người Thái). Bộ phận lớn nhất, quan trọng nhất di chuyển theo hướng đông, đến tụ cư tại vùng Đông Bắc Campuchia và Hạ Lào ngày nay. Dấu vết của bộ phận cư dân này còn để lại đến ngày nay là các di chỉ khảo cổ Mluprây, Vátphu thuộc niên đại đồ sắt sơ kỳ. Những tài liệu khảo cổ học tìm thấy ở đây đã chứng tỏ rằng, chủ nhân của nó là cư dân nông nghiệp, sống bằng trồng trọt trên các thềm cao bên cạnh săn bắn và đánh cá. Họ ở trong những ngôi nhà sàn, bên dưới sàn là nơi nuôi trâu và lợn, đi lại và đánh cá bằng những chiếc thuyền độc mộc, làm từ những thân cây đục rỗng, có ghép thêm hai phao ở hai bên mạn thuyền để tăng thêm an toàn. Họ cũng làm được nhiều loại đồ gốm từ đất sét, có trang trí hoa văn ngoằn nghèo. Phụ nữ đã biết dệt các loại vải thô từ sợi bông cây gòn (Kapok). Đây là tổ tiên chung của người Khmer và các tộc ít người ở Tây Bắc Campuchia ngày nay. Hậu duệ của bộ phận cư dân này là người Penong hiện sinh sống ở miền núi Campuchia. Ngày nay, người Khmer chiếm số đông tuyệt đối trong cư dân của Campuchia, nhưng thời xa xưa người Khmer và người Penong là một, có chung một tổ tiên là bộ phận cư dân thuộc khối “Trung tâm Đông Dương”, mà có thể tạm gọi là người “tiền Khmer-Penong” (cách gọi của chúng tôi trong bài nghiên cứu này).

Tiếp theo đó, vào những năm trước và sau Công nguyên, là thời kỳ chuyển biến cư dân hết sức lớn lao, dưới tác động của các biến cố lịch sử. Trong thời kỳ này, ngoài sự xáo trộn của các khối cộng đồng cư dân trong nội bộ khu vực nam Đông Dương, đặc biệt phải kể đến là hai lần “Ấn Độ hóa” về văn hóa và con người, với các cuộc thiên di của tầng lớp quí tộc, thương nhân, tăng lữ, tri thức từ Ấn Độ tới. Thêm vào đó là các đợt nam tiến của nhiều tộc người từ Bắc Đông Dương và Nam Trung Quốc tràn xuống. Nhiều thành phần khác nhau, trong đó quan trọng nhất là thành phần Ấn, sau đó là Mã Lai đã tác động vào khối cư dân “tiền Khmer-Penong”. Chính trong bối cảnh xáo trộn cư dân này mà loại hình Khmer đã hình thành cùng với quá trình hình thành quốc gia Campuchia sơ kỳ (Chân Lạp cổ đại). Từ một khối chung là “tiền Khmer-Penong”, một bộ phận chủ yếu, quan trọng nhất chịu tác động của nhiều pha trộn thành phần cư dân, mà chủ yếu là thành phần Ấn, đã hình thành nên loại hình Khmer. Bộ phận còn lại, do nhiều nguyên nhân khác nhau, ít chịu ảnh hưởng của sự pha trộn, bảo lưu thành phần gốc đến ngày nay, đó là người Penong bây giờ. C.Coedes (1944) đã nhận định: “Khmer chỉ là người Penong Ấn Độ hóa” (Lương Ninh, 2005, tr.180). GS. Lương Ninh còn cho rằng nhóm cư dân mà chúng tôi gọi là “tiền Khmer-Pnong” là các bộ lạc Môn cổ thuộc nhóm Môn Trung du và chính các bộ lạc Môn cổ ở hạ lưu Sêmun này đã phát triển và lập nước, chứ không có một tộc Khmer ngay từ đầu (Lương Ninh, 2005, tr.179).

Truyền thuyết dựng nước của người Khmer về sau cũng phần nào phản ánh quá trình “Penong Ấn Độ hóa” để hình thành loại hình Khmer này. Theo đó, một Đại ẩn sĩ (Mahasi) Ấn Độ tên là Kambuvayambara đã tới vùng đất nơi người Khmer sinh sống và kết hôn với nàng tiên nữ Mera, con gái thần Siva. Kết quả là cuộc hôn nhân này đã sản sinh ra dòng dõi vua chúa lấy tên là Kampuja, nghĩa là con cháu của Kampu. Từ đó trở thành tên nước Kampuchia (Campuchia) và danh xưng tộc người đuợc gọi là Khmer hay Kmer là tên viết tắt của Kampu và Mera.

Từ hậu kỳ đồ đá mới và nhất là từ thời đại đồng thau trở đi, khi những dòng cư dân thuộc ngành Mongoloid Phương nam (Nam Á), từ Nam Trung Quốc và Bắc Đông Dương, tràn xuống phía nam bán đảo Đông Dương ngày càng nhiều, người Khmer lại tiếp tục một quá trình biến đổi nữa theo hướng Nam Á hóa. Quá trình này ngày nay vẫn đang tiếp diễn, khiến cho các yếu tố Mongoloid (như tỷ lệ tóc thẳng và mắt một mí, da bớt đen, mũi bớt rộng…) ở người Khmer ngày càng nhiều thêm. Ttrong đó, bộ phận người Khmer ở Nam Bộ – Việt Nam có biểu hiện Nam Á hóa rõ nét hơn, vì đã sống cộng cư lâu năm với các loại hình Nam Á (người Việt, người Hoa).

Như vậy, từ một loại hình gốc là Vedoid cổ (mà nguồn gốc của nó được hình thành từ những dạng trung gian giữa Mongoloid và Australoid, trong quá trình chuyển biến các loại hình nhân chủng thời đá mới), trải qua một quá trình biến đổi riêng – quá trình “đầu hóa ngắn” – để trở thành một loại hình địa phương (local form) là “Trung tâm Đông Dương”. Rồi từ khối “Trung tâm Đông Dương”, một bộ phận đã từ vùng phát sinh di chuyển đến tụ cư tại vùng Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia, để trở thành tổ tiên chung của người Khmer và các tộc ít người bản địa khác của Campuchia – người “tiền Khmer-Penong”. Tại địa bàn sinh tụ đầu tiên (Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia) này, trong điều kiện của những xáo trộn và biến đổi rất lớn về cư dân ở vùng Nam Đông Dương, dưới tác động của nhiều thành phần cư dân khác, trong đó chủ yếu là thành phần Ấn, Mã Lai mà loại hình Khmer được hình thành. Sau đó, khi tiếp xúc với các dòng Nam Á, người Khmer lại tiếp tục chuyển biến theo chiều hướng Nam Á hóa. Vì thế, lẽ dĩ nhiên ngày nay người Khmer không còn giống hệt như tổ tiên của họ về các đặc điểm nhân chủng, nhưng vẫn giữ được những nét cơ bản tương đồng như da sẫm màu, tóc đa số uốn làn sóng, đầu tròn là những đặc trưng cơ bản của loại hình “Trung tâm Đông Dương” hay “tiền Khmer-Penong”.

2. QUÁ TRÌNH TẬP HỢP TỘC NGƯỜI CỦA NGƯỜI KHMER

Lịch sử hình thành và quá trình tập hợp tộc người của người Khmer, từ những bộ lạc tản mát, gắn liền với quá trình hình thành nước Chân Lạp, mà theo tình trạng hiểu biết hiện nay, được bắt đầu từ khoảng thế kỷ V sau công nguyên. Đó là quá trình liên kết và cố kết (consolidation) các bộ lạc Khmer tản mát tạo ra nền tảng cơ sở xã hội cho sự hình thành nên quốc gia sơ kỳ và ngược lại, việc thành lập quốc gia lại tạo ra những điều kiện thuận lợi cho quá trình liên kết tộc người của người Khmer

Trong thời kỳ này, lịch sử hình thành quốc gia Khmer sơ kỳ gắn liền với một vấn đề phức tạp, gây nhiều tranh cãi tới nay là vấn đề quốc gia Phù Nam và cư dân Phù Nam.

Trước kia, khi nghiên cứu lịch sử Campuchia, các học giả phương Tây (chủ yếu là các học giả người Pháp của trường Viễn đông Bác cổ) cho rằng Phù Nam là tiền thân, là giai đoạn đầu của lịch sử Campuchia; lịch sử Campuchia và lịch sử Phù Nam là một. Mặc dù quan điểm này được một số người thừa nhận, song tìm hiểu và tiếp tục làm sáng tỏ những vấn đề về Phù Nam vẫn là một yêu cầu bức thiết của nhiều ngành khoa học, đặc biệt là khoa học lịch sử. Nhiều nhà khoa học thuộc các ngành khác nhau đã quan tâm nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực khác nhau của vấn đề. Kết quả nghiên cứu trong những năm gần đây đã làm sáng tỏ những vấn đề lịch sử hoàn toàn khác trước. Từ những nguồn sử liệu và các kết quả từ nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học có thể tóm lại một vấn đề như sau:

1. Theo sử liệu, có một quốc gia Phù Nam và một quốc gia Chân Lạp ở hai vị trí hoàn toàn khác nhau trên phía nam của bán đảo Đông Dương vào những thế kỷ đầu công nguyên, trong đó:

– Phù Nam nằm trong phía nam quận Nhật Nam (phía Nam của Trung Bộ Việt Nam bây giờ) và cách quận này 7000 lí. Danh xưng Phù Nam nghĩa là vùng đồi núi không phải vùng đồng bằng châu thổ mà theo Malleret thì chủ yếu là thuộc lãnh thổ Campuchia bây giờ và một phần giáp biển thuộc tỉnh An Giang của Việt Nam ngày nay.

– Chân Lạp nằm ở phía Tây Nam nước Lâm Ấp, thời kỳ đầu là thuộc quốc của Phù Nam. Sau nhờ mạnh lên, Chân Lạp chẳng những thoát khỏi sự lệ thuộc vào Phù Nam mà còn chinh phục lại nước này. Quốc gia Phù Nam bị diệt vong từ đấy và trở thành một phần lãnh thổ của Chân Lạp.

2. Cư dân của Phù Nam chủ yếu là các bộ lạc thuộc nhóm ngữ hệ Malayo-Polynesien mà hậu duệ là các tộc người Chăm, Êđê, Giarai, Raglai trên bán đảo Đông Dương bây giờ.

Như vậy, Phù Nam không phải là giai đoạn đầu của Campuchia sơ kỳ, theo trình tự Phù Nam rồi đến Chân Lạp như quan điểm trước đây. Phù Nam và Chân Lạp là hai quốc gia khác nhau. Lịch sử của Phù Nam là lịch sử của một quốc gia riêng, đã từng tồn tại và bị diệt vong bởi chính sự chinh phục của Chân Lạp.

Khi đã tách bạch Phù Nam và cư dân Phù Nam ra khỏi lịch sử sơ kỳ Campuchia, vấn đề còn lại là làm rõ về quá trình tập hợp tộc người của người Khmer gắn liền với sự hình thành quốc gia Khmer sơ kỳ như thế nào.

Như phần nguồn gốc tộc người đã trình bày ở trên, cội nguồn của tộc người Khmer là người “tiền Khmer-Penong” trong khối “Trung tâm Đông Dương” với nơi tụ cư đầu tiên là vùng trung lưu sông Mekong và lưu vực sông Sêmun (nơi gần ngã ba sông Sêmun và Mekong). Dấu vết còn lại tới ngày nay là các di chỉ khảo cổ Mluprây, Vát Phu nổi tiếng. Những bộ lạc “tiền Khmer-Penong” thuộc khối “Trung tâm Đông Dương” này, theo kết quả phân tích từ các di chỉ khảo cổ, là những cư dân giỏi săn bắn và thu hoạch lâm sản, quen đào ao, đắp hồ để trữ nước. Họ cũng đã biết trồng lúa trên các thềm cao của bờ sông, bờ hồ dựa vào nguồn nước trời và các nguồn nước dự trữ được. Những bộ lạc này đã phải thần phục Phù Nam từ thế kỷ III. Nhưng cũng do phải thần phục mà các bộ lạc này có quan hệ thường xuyên về nhiều mặt, trong đó, có điều kiện tiếp xúc và tiếp thu văn hóa Phù Nam và văn hóa Ấn Độ qua Phù Nam. Đây chính là thời kỳ các bộ lạc “tiền Khmer-Penong” thuộc khối “Trung tâm Đông Dương” chịu tác động của quá trình “Ấn Độ hóa” để hình thành loại hình Khmer cổ. Nhờ sự phát triển của kỹ thuật sắt và sự ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ, các bộ lạc Khmer cổ (kết quả của tác động “Ấn Độ hóa”) dần mạnh lên, đã liên kết lại với nhau và thu phục các bộ lạc khác để lập nên quốc gia sơ kỳ, vào cuối thế kỷ V, mà thư tịch Trung Quốc, không rõ vì sao, gọi là Chenla (Chân Lạp). Trong văn bia, lúc đầu, người Khmer tự gọi tên nước theo tên vua là Bhavapura – kinh thành/nước mang tên của vua Bhavavarman (Lương Ninh, 2005, tr.180). Về sau, theo truyền thuyết Kambu-Mera, như đã nói ở trên, mà có tên tộc người là Khmer và tên nước là Kampuchia.

Vị trí khởi đầu của quốc gia Campuchia sơ kỳ (Bhavapura – Chân Lạp), cái nôi của lịch sử văn minh Khmer, là vùng Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia ngày nay. Điều đó đã được khẳng định trong nhiều công trình của các nhà khoa học uy tín.

Trong bộ bách khoa “Các dân tộc trên thế giới” của Viện hàn lâm Khoa học Liên Xô (cũ), tập “Các dân tộc Đông Nam Á”, phần về các dân tộc ở Campuchia đã khẳng định: “Trung tâm Chân Lạp – Hạ Lào là cái nôi sinh thành của tộc người Khmer cổ đại” (Các dân tộc Đông Nam Á ,1966, tr.177). Nhà dân tộc học I.G.Kôxicốp, chuyên gia về quá trình tộc người ở Các dân tộc Đông Nam Á, nhận xét: “Nằm trên lãnh thổ nước Lào hiện nay, tại vùng trung lưu của sông Mêkong và sông Sêmun, trung tâm của quốc gia (Chân Lạp – NKC) trở thành cái nôi của lịch sử văn minh Khmer” (I.G.Côxicốp, 1988, tr. 66). GS.Lưong Ninh viết: “Thời xa xưa, người Khmer cổ còn gắn bó với nột địa bàn khác ở phía bắc. Đó là lưu vực sông Sêmun chảy qua Còrạt (nay thuộc Thái Lan)” (Lương Ninh, 1984, tr.72). Các tác giả của cuốn “Lịch sử Campuchia” cho rằng: “Buổi ban đầu, nước này (Chân Lạp – NKC) chiếm cả một vùng thuộc trung lưu sông Mêkong, miền Hạ Lào ngày nay. Kinh đô đầu tiên của nó là Sretapura, có lẽ ở địa điểm di chỉ Vát Phu, cách vùng Bátxắc trên sông Mêkong không xa” (Phan Việt Trung, Nguyễn Xuân Kỳ, Đỗ Văn Nhung, 1982, tr. 46).

Quốc gia Khmer sơ kỳ (Bhavapura – Chân Lạp) thời kỳ đầu là thuộc quốc gia Phù Nam. Về sau, Chân Lạp mạnh lên, chẳng những thoát khỏi sự lệ thuộc vào Phù Nam mà còn chinh phục lại Phù Nam, sát nhập quốc gia Phù Nam thành một bộ phận lãnh thổ của mình. Phù Nam bị diệt vong từ đấy. Nhờ vào văn bia Robang Romeas, niên đại 598, ngày nay người ta biết đến 3 ông vua của vương triều đầu tiên của quốc gia Khmer sơ kỳ là: 1-Bhavavarman, 2-Mahendravarman cũng là Chitrasena/ Sitrasena, 3- Isanavarman. Trong đó, Bhavavarman là vua sáng lập, ở ngôi trong vài chục năm, cai quản quốc gia mới lập mang tên ông. Vua Mahendravarman/ Sitrasena/Chitrasena (Tùy thư gọi là Chất Đa Tư Na), là em của Bhavavarman, lên ngôi và trị vì từ khoảng cuối thế kỷ VI đến khoảng năm 624. Đây là vua được coi là “người thứ nhất’, “vị trì” và là người bắt đầu cuộc tấn công Phù Nam. Sự kiện này được Tân Đường thư (sử nhà Đường) (618 – 907) kể lại: “Vua Phù Nam cai trị ở thành Đặc Mục, bỗng chốc bị Chân Lạp xâm chiếm, phải di chuyển về sâu phía nam, đến thành Naphấtna…”. Đặc Mục là địa điểm Angkor Borei có tên là Nagarapura, còn Naphấtna là thành phố biển – Samudrapura mà GS.Lương Ninh gọi là Nước Chí Tôn bên bờ sông Hậu (Lương Ninh, 1981, tr. 38), nay gọi là Naravaranagara. Sau khi Sitrasena chết, con ông là Isanavarman (Y Sa Na Tiên) thế tập, đóng đô ở Sambo Prei Kuk – Isanapura, là người tiếp tục và hoàn thành cuộc chinh phục Phù Nam, làm cho vua Phù Nam phải chạy sang Java, lập lại vương triều núi (Sailendra) ở Đông Java (tk VII – IX).

Đối với quá trình cố kết hình thành tộc người của người Khmer, việc hình thành nên quốc gia Chân Lạp vào cuối thế kỷ thứ V là một sự kiện vô cùng quan trọng. Nó vừa đánh dấu mốc khởi đầu lịch sử của chính nước Campuchia, đồng thời cũng là thời kỳ mở đầu của quá trình liên kết hình thành nên cộng đồng tộc người Khmer thống nhất. Việc chinh phục Phù Nam đối với người Khmer không chỉ là sự mở rộng về lãnh thổ, mà quan trọng hơn, nó là sự mở đường cho cuộc nam tiến thứ nhất của người Khmer.

Từ cái nôi sinh thành là vùng trung lưu sông Mekong, bên vùng sườn dốc của Biển Hồ, địa bàn xung quanh có núi rừng bao bọc, đất canh tác không nhiều và chủ yếu nằm ở sườn dốc, việc tưới nước rất khó khăn. Khi chinh phục được đất Phù Nam, người Khmer “háo hức trước một nền văn minh sớm hơn và phát triển hơn, nhất là nền văn minh biển Naravara” (Lương Ninh, 1984, tr.82), đã tràn xuống phía nam, cách xa địa bàn sinh trưởng của mình. Và tại đây đã diễn ra một quá trình hỗn cư giữa người Khmer Chân Lạp và cư dân Phù Nam, thuộc ngôn ngữ Malayo-Polynesien, để tạo nên một cộng đồng dân cư dân tộc và hình thành nên bộ phận người Khmer phía nam, trên lãnh thổ Phù Nam cũ. Nhưng những người Khmer Chân Lạp, dù sao, vẩn còn dừng chân chủ yếu trên những thềm cao.Vì là cư dân trồng lúa trên thềm cao, dùng nước tưới tự nhiên, họ chưa hề biết biển và không biết thích ứng thế nào với những ruộng trũng, ruộng ngập nước và kênh rạch chằng chịt của vùng hạ lưu sông Mekong. Vì vậy, họ là người chiến thắng nhưng không chiếm cứ mà chỉ tàn phá, lập đền thờ, dựng bia tuyên ngôn để tự giới thiệu và chứng tỏ quyền uy của mình rồi rút về. Dấu tích đi xa nhất của lần nam tiến này, mà ngày nay ta có thể phỏng đoán được, là sự trùng hợp về thời gian giữa cuộc nam tiến này của người Khmer Chân Lạp với sự hủy hoại một cách đột ngột của cảng biển Naravara vào thế kỷ thứ VII mà L.Malleret đã phát hiện thấy dấu vết của sự tàn phá đột ngột ở di chỉ Óc Eo.

Bước vào thế kỷ thứ VIII, Chân Lạp lại sớm rơi vào một cuộc khủng hoảng, để rồi cuối cùng, rơi vào tình trạng phân liệt. Bộ phận miền bắc của các bộ lạc Khmer gốc hay quốc gia Chân Lạp cũ (khi còn là thuộc quốc của Phù Nam) lập lại thành một nước riêng ở lưu vực sông Semun, tách khỏi bộ phận phía nam (phần lãnh thổ Phù Nam). Đây là thời kỳ phân chia mà sử liệu gọi là nước “Lục-chân-lạp” và nước “Thủy-chân-lạp”. Đất nước phân chia làm hai, các bộ lạc Khmer, vừa mới liên kết lại để hình thành nên “quốc gia”, lại sớm phân tách thành hai bộ phận. Bộ phận phía bắc – tức bộ phận Khmer gốc – tách khỏi phía nam (mới được hình thành trên đất Phù Nam cũ). Hai bộ phận này lấy dãy Đăngrếch và thác Khổng làm ranh giới tự nhiên. Nhưng ngay ở mỗi “tiểu quốc” (Lục-chân-lạp và Thủy-chân-lạp), các “triều đình” cũng không kiểm soát nổi lãnh thổ của mình. Ở Lục-chân-lạp, thủ lĩnh nhiều địa phương nổi lên cát cứ, lập ra những “nước” riêng. Còn Thủy-chân-lạp thì sử liệu không cho thấy ở đây có một vương triều nào hay một ông vua nào trị vì, mà chỉ biết có hai lần người Java đổ bộ vào cướp phá và cuối cùng thì rơi vào ách đô hộ của nước Kalinga, một nước đang trong thời kỳ hưng khởi ở Java. Quá trình liên kết để hình thành tộc người thống nhất của người người Khmer vẫn còn nằm ở giai đoạn sau.

Ở đây cũng cần chú ý rằng, Thủy-chân-lạp không phải là đồng bằng sông Cửu Long mà chủ yếu là vùng trung lưu sông Mekong với trung tâm là Sambhupura ở Sambor, Kongpong Cham. Vùng đồng bằng sông Cửu Long, như đã nói ở trên, người Khmer chỉ đến tàn phá rồi rút đi. Dấu tích của người Khmer trên đồng bằng sông Cửu Long trước năm 802 là rất ít ỏi, không đáng kể. Vì thế có thể nhận định rằng, sau sự tàn lụi của quốc gia Phù Nam và cùng với quá trình biển tiến, vùng đồng bằng sông Cửu Long lại trở thành hoang hóa.

Năm 802, một trong những hoàng thân Khmer bị bắt sang Java làm con tin trốn thoát về nước. Dựa vào sự ủng hộ của dân chúng, ông đã đánh đổ tầng lớp thống trị Java cát cứ ở Thủy-chân-lạp, lên ngôi vua lấy vương hiệu là Jayavarman (Giayavácman) II (802 – 844). Sau khi lên ngôi vua, Jayavarman II đã sớm ổn định tình hình, dẹp tan sự chống đối của các thủ lĩnh cát cứ, thu phục các vùng xa, thống nhất lại toàn bộ vương quốc (Lục-chân-lạp và Thủy-chân-lạp) về một mối, mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử Campuchia – thời kỳ các triều đại Angko huy hoàng. Nhu cầu thống nhất vương quốc và sức mạnh của một triều đại mới đã giúp cho Jayavarman II sớm thành công. Và sự thống nhất vương quốc lần này cũng là lần thứ hai mở ra con đường nam tiến cho các bộ lạc Khmer gốc từ phía bắc, một quá trình liên kết, cố kết mới lại bắt đầu trong lịch sử hình thành tộc người Khmer.

Suốt nhiều thế kỷ sau đó, các vua chúa Khmer đã không ngừng tăng cường di dân Khmer đến cư trú ở vùng Thủy-chân-lạp (chủ yếu thuộc đất Campuchia bây giờ), tạo nên ưu thế mạnh mẽ của cư dân Khmer ở đây, làm cơ sở cho việc thống nhất vương quốc, lập kinh đô và xây dựng thành vùng trung tâm dân cư ở phía Nam. Đến cuối thế kỷ XII – đầu thế kỷ XIII, dưới triều dại của Jayavarman VII (1181 – 1201), nghĩa là 4 đến 5 thế kỷ, kể từ khi Jayavarman II thống nhất vương quốc và lên ngôi vua – vưong quốc Khmer đã đạt tới giai đoạn cực thịnh với một vương triều hùng mạnh, có bộ máy tổ chức hành chính thống nhất từ trung ương tới địa phương, không còn cát cứ. Có thể nói, tới đây, quá trình tập hợp tộc người của người Khmer đã hoàn thành. Những bộ lạc Khmer tản mát, hoặc những bộ phận bị phân cắt thành những nhóm riêng biệt, sau gần mười thế kỷ tập hợp, cố kết đã trở thành một cộng đồng tộc người thống nhất. Cũng cần nhấn mạnh rằng, đến cuối thế kỷ XIII, khi lãnh thổ và biên giới của Campuchia tương tự như ngày nay được xác lập, với thành phần cư dân tuyệt đại đa số là người Khmer, thì danh xưng Campuchia cũng bắt đầu từ đấy (Đ.V. Đêopíc, 1981, tr. 69).

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tài liệu tiếng Việt

1.      Phan An, Nguyễn Xuân Nghĩa,1980, Dân tộc Khmer, trong sách Các dân tộc ít người Việt Nam (các tỉnh phía Nam), NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.

2.      Nguyễn Khắc Cảnh,1996, Các loại hình công xã của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long, Luận án Tiến sĩ, TP. HCM.

3.      Mạc Đường,1981, Vấn đề dân cư và dân tộc ở ĐBSCL trong thời cổ đại, Tạp chí Dân tộc học, Số 4.

4.      Mạc Đường, 1982, Quá trình phát triển dân cư và dân tộc ở ĐBSCL từ XV đến XIX, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, Số 3.

5.      Lê Hương, 1969, Người Việt gốc Miên, Sài Gòn.

6.      Lê Hương,1974, Sử liệu Phù  Nam, Nguyên nhiêu, Sài Gòn.

7.      Nguyễn Đình Khoa,1983, Các dân tộc ở Việt Nam (dẫn liệu nhân chủng học). NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.

8.      Nguyễn Đình Khoa, 1983, Nhân chủng học Đông Nam Á, NXB Đại học & Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.

9.      Phan Huy Lê, Lương Ninh, Hà Văn Tấn, Trần Quốc Vượng, 1993, Lịch sử Việt Nam, Tập I, NXB Đại học & Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.

10.    Lương Ninh,1981, Nước Chí Tôn, một quốc gia cổ của miền tây sông Hậu, Tạp chí Khảo cổ học, Số 1.

11.    Lương Ninh,1984, Lịch sử Trung đại thế giới, Quyển 2, NXB Đại học & Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.

12.    Lương Ninh,1987, Óc Eo và Phù Nam, Tạp chí Khảo cổ học, Số 1.

13.    Lương Ninh, 2005, Vương quốc Phù Nam: Lịch sử và văn hóa, Viện Văn hóa và NXB Văn hóa – Thông tin, Hà Nội.

14.    Paul Pelliot, Nước Phù Nam, Tài liệu đánh máy, dịch từ tiếng Pháp của Viện Bảo tàng Lịch sử.

15.    Châu Đạt Quang, 1973, Chân Lạp phong thổ ký (Bản dịch của Lê Hương), Kỷ nguyên mới, Sài Gòn.

16.    Phạm Việt Trung, Nguyễn Xuân Kỳ, Đỗ Văn Nhung,1982, Lịch sử Campuchia, NXB Đại học & Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.

17.    Phạm Việt Trung, Nguyễn Xuân Kỳ, Đỗ Văn Nhung,1994, Văn hóa Óc Eo và các văn hóa cổ ở ĐBSCL, Sở VHTT An Giang, Long Xuyên.

18.    Phạm Việt Trung, Nguyễn Xuân Kỳ, Đỗ Văn Nhung,1991, Vấn đề dân tộc ở ĐBSCL, NXB Khoa học Xã hội.

Tài liệu nước ngoài (các tác phẩm tiếng Nga)

19.    Các dân tộc Đông Nam Á,1966, Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, NXB Nauka Mátxcơva.

20.    Đ.V. Đêôpíc,1981, Campuchia từ thời cổ đại đến giữa thế kỷ XIX, trong sách Lịch sử Campuchia”, Matxcova.

21.    I.G. Côxicốp,1988, Những quá trình tộc người ở Campuchia, NXB Nauka. Mátxcơva.

22.    M.G. Lêvin, N.N Tchêbốcxarốp,1951, Phân bố cư dân cổ đại ở Đông Nam Á, trong Các tác phẩm Viện Dân tộc học, Tập VI, Mátxcơva.

23.    Trexnốp,1976, Lịch sử tộc người các nước Đông Dương, NXB Nauka, Mátxcơva.

24.    Tổng hợp các khái niệm, các thuật ngữ dân tộc học, 1988, NXB Nauka, Mátxcơva.

25.    Vấn đề phân loại dân tộc học, 1979, NXB Nauka. Mátxcơva.


* TS., Phó Hiệu Trưởng, Trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh.

Nguồn: http://www.anthdep.edu.vn